
Trận Chiến Ðấu Bi Hùng của Trường Thiếu Sinh Quân Vũng Tàu Tháng 4 1975




Tại ngôi Trường Mẹ T.S.Q. Vũng Tàu, tôi đã được nuôi dưỡng, giáo dục suốt 7 năm trường từ khi tôi là một chú bé 11 tuổi rưỡi đến khi tôi được 18 tuổi rưỡi.
“Bước đầu đưa tới sự tiến hoá của đạo đức là ý thức đoàn kết với tha nhân.”
“The first step in the evolution of ethics is a sense of solidarity with other human beings.”
– Albert Schweitzer –

Trận Chiến Ðấu Bi Hùng của Trường Thiếu Sinh Quân Vũng Tàu Tháng 4 1975




Tại ngôi Trường Mẹ T.S.Q. Vũng Tàu, tôi đã được nuôi dưỡng, giáo dục suốt 7 năm trường từ khi tôi là một chú bé 11 tuổi rưỡi đến khi tôi được 18 tuổi rưỡi.
Kính thưa quý vị,
Thật là một vinh hạnh cho tôi ngày hôm nay được lên đây giới thiệu với quý vị về nữ sĩ Hồng Khương cùng thân thế sự nghiệp của thân phụ của nữ sĩ là cố văn thi sĩ Á Nam Trần Tuấn Khải, một người được giới phê bình văn học xem như một Thi hào trong văn học sử nước nhà. Thi hào Á Nam Trần Tuấn Khải sinh năm 1894 tại huyện Mỹ Lộc tỉnh Nam Định là một người thông minh, hiếu học được thân phụ là cử nhân Văn Hoán Trần Thụy Giáp dạy dỗ nên ngay từ năm 14 tuổi đã dịch bài Ái Quần trong quyển Ấu Học Tân Thư được quan Án Sát khen là “Khẩu khí thần tình sẽ trở thành người có ích cho xã hội và tặng cho Trần Tuấn Khải bộ văn Quốc Sử Ký mới mua từ Nhật Bản. Lớn lên Trần Tuấn Khải viết văn, làm thơ, làm báo và dịch thuật với các bút danh Côi Hoàng Khách, Đông A Thi, Tiểu Hoa Nhân, Đông Minh, Lâm Tuyền cư sĩ, Giang Hồ Tản Nhân và bút hiệu chính là Á Nam. Năm 1920, Á Nam in tập thơ đầu tay là “Duyên Nợ Phù Sinh”, năm 1925, xuất bản tiểu thuyết “Hồn Hoa” và “Gương Bể Dâu”.
Đọc tiếp “Nữ sĩ Hồng Khương và thi văn tuyển Trần gia “Á Nam Trần Tuấn Khải””
Liên hoan Quốc tế võ cổ truyền VN lần thứ 4 tại Bình Định năm nay đã thiếu vắng một gương mặt quen thuộc của giới võ thuật VN. Ông được Liên đoàn Võ thuật VN tặng cho biệt danh “truyền nhân” của Hùng kê quyền – một thế võ độc đáo của Đông Định vương Nguyễn Lữ. Ông là võ sư Ngô Bông.
(2/11/1924 – 28/7/1990)
Vào đúng ngày này 22 năm trước, Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy qua đời trên bước đường hoạt động tranh đấu cho một nước Việt Nam dân chủ tự do thực sự. Từ đó đến nay đã trải qua 2 thập niên, cứ đến độ hè về vào cuối tháng bảy hàng năm đều có lễ giỗ tưởng niệm đến Cố Giáo sư Nguyễn Ngọc Huỵ Chính sự kiện khác thường này cho thấy hậu thế không muốn quên một nhân vật đặc biệt trong lịch sử VN. Thực vậy sự ra đi vĩnh viễn của Gs Huy để lại biết bao nhiêu thương tiếc thực sự cho những người còn lại.
Trần Đông Phong
Gần đây, một vài vị khán giả của đài truyền hình STBN có liên lạc với người viết để hỏi thăm thêm về một bài thơ của cụ Phan Bội Châu tặng cho ông Ngô Đình Diệm vào năm 1933 mà họ đã nghe được trong một buổi nói chuyện giữa người viết và ký giả Tường Thắng, người phụ trách Chương Trình Lịch Sử Cận Đại trên đài truyền hình STBN, hồi mấy tháng về trước.
Người viết xin mượn bài viết này để trả lời cho câu hỏi đó.
Trong số những nhà cách mạng chống lại thực dân Pháp trong lịch sử Việt Nam thời đầu thế kỷ thứ 20, có hai người cùng họ Phan được toàn dân xem như là hai nhà cách mạng vĩ đại nhất, đó là cụ Phan Sào Nam tức là Phan Bội Châu và cụ Phan Tây Hồ tức là Phan Chu Trinh. Cụ Phan Chu Trinh từ trần tại Sài Gòn vào năm 1926 và Cụ Phan Bội Châu từ trần vào năm 1940, sau hơn 15 năm bị quản thúc tại Bến Ngự, Huế.
Đọc tiếp “Về một bài thơ của cụ Phan Bội Châu tặng ông Ngô Đình Diệm”
Hàn Giang Trần Lệ Tuyền
Nguyễn Công Trứ quê làng Uy Viễn, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Nguyễn Công Trứ sinh cuối năm 1778, kém thi hào Nguyễn Du 12 tuổi, là đồng hương Nghi Xuân, hai làng cách nhau chỉ hơn một cây số. Nổi tiếng thông minh, học giỏi từ ấu thơ, nhưng lận đận mấy lần thi cử, mãi tới năm 1819, ông mới giành được giải nguyên trường Nghệ. Bước hoạn lộ bắt đầu ở tuổi ngoài 40 (1820) với chức Hành tẩu Quốc sử quán nhưng lại gập ghềnh bao chặng gian nan.
Đem thân vào chốn quan trường, 28 năm làm quan, 26 chức vụ khác nhau, lúc làm quan văn, khi thì quan võ. Ba lần Nguyễn tiên sinh được cử đi chấm thi hương (cử nhân), có lần đảm chức Chánh chủ khảo trường thi Hà Nội. Bốn lần được phong làm tướng cầm quân, ra Bắc, vô Nam, oai phong lẫm liệt. Nhưng con người tài hoa và khí phách ấy với nhân cách ngay thẳng, bộc trực, dám làm, dám chịu bị những kẻ gian nịnh trong triều, ngoài nội ganh ghép, gièm pha, vu vạ, chịu nhiều phen điêu đứng. Chúng vu ông buôn lậu, mưu phản triều đình, vượt quyền vua, toàn là trọng tội. Nhiều lần ông bị giáng chức từ ba, bốn cấp, có khi cách tuột, cho đi làm lính thú. Nhiều phen ông bị án oan, có khi phải chịu án “trảm giam hậu” (tội chém, nhưng giam chờ lệnh)!
Tôi nhớ khi thông báo với các chiến hữu trong ngành về tình trạng nguy kịch của tướng Trần Văn Trung khi nằm tại một bệnh viện tại Paris trước lễ Phục sinh, anh Lê Trung Hiền có viết mấy dòng sau:
Trung Tướng Trần Văn Trung, theo nhận định của chúng tôi, những quân nhân đã phục vụ nhiều năm tại Tổng cục Chiến Tranh Chính Trị, không phải là thánh, nhưng là một vị chỉ huy trưởng, một tướng lãnh QLVNCH đức độ và liêm chính, rất đáng kính trọng và quí mến.
Sự đánh giá chân tình và khách quan của người sĩ quan dưới quyền cũng là cách nhìn của đông đảo anh em chúng tôi, trong ngành nói riêng và các chiến hữu một thời sát cánh trong quân lực VNCH nói chung. Nếu vinh danh ông trong lễ phủ cờ một khi ông qua đời thì với tư cách một tướng lãnh, ông xứng đáng được tán tụng như một trong những khuôn mặt lãnh đạo có nhân cách lớn, một ông tướng vừa sạch, vừa đức độ, hết lòng phục vụ cho lý tưởng quốc gia và tập thể quân đội mà ông là một thành viên có mặt đến giờ phút chót của cuộc chiến.