Đăng trong Vườn thơ

Nét đẹp bài thơ “Tống biệt” của Tản Đà

Chân dung Tản Đà

Khi gắn bó thân thiết thấu hiểu tiếng lòng người tương tri, ta càng ngậm ngùi giây phút chia ly . Cảm giác cô đơn , lạnh lẽo , trống vắng thấm thía … thấm dần …thấm dần… từng giọt buồn giọt đắng thiêng liêng rỏ trong lòng…

Thi ca xưa từng in dấu những cuộc chia ly cảm động không lời mà đượm buồn thương nhớ khi Lý Bạch tiễn bạn ở “Hoàng hạc lâu” , khi Thúc Sinh từ biệt Thúy Kiều , và nhân gian không thể quên cuộc chia ly không hẹn ngày tái ngộ đầy ngậm ngùi của tiên nữ tiễn hai chàng Lưu Nguyễn trong bài ” Tống Biệt” của thi sĩ Tản Đà chốn Thiên Thai :

“Lá đào rơi rắc lối Thiên Thai
Suối tiễn , oanh đưa , những ngậm ngùi
Nửa năm tiên cảnh
Một bước trần ai
Đọc tiếp “Nét đẹp bài thơ “Tống biệt” của Tản Đà”

Đăng trong Địa linh nhân kiệt

Bà Thủ khoa Nghiã

Lãng Nhân

Khoảng 1820, ông Nguyễn Văn Lý làm hộ trưởng ở tỉnh Biên Hòa, nhà cửa thênh thang làm ăn sung túc. Một hôm, một thanh niên đến xin ở trọ để tiện theo học trường thày đồ Hoành gần đó. Thấy vẻ người tuấn tú, ăn nói lễ độ, ông niềm nở mời ngồi. Hỏi lai lịch thì biết là Bùi Hữu Nghĩa, quê làng Long Tuyền, tổng Bình Thủy, Cần Thơ, cha làm thuyền chài đã gắng cho theo đòi bút nghiên, ngặt vì quá nghèo nên định bỏ học thì may có ông người làng họ Ngô mến tính hiếu học giúp tiền lương cho lên Biên Hòa thụ giáo thày Hoành là nhà mô phạm nức tiếng. Ông hộ trưởng vui vẻ dành ngay một phòng cho người thư sinh dễ. thương, ngầm có ý chấm làm khách đông sàng vì ái nữ là cô Tốn tóc đã chấm ngang vai.

Đọc tiếp “Bà Thủ khoa Nghiã”

Đăng trong Địa linh nhân kiệt

Tưởng nhớ ông Thủ khoa Bùi Hữu Nghiã (1807-1872)

Hàn Lâm NGUYỄN PHÚ THỨ
(Trích dẫn tác phẩm Tìm Hiểu Danh Nhân 1 của Gs Nguyễn-Phú Thứ)

Sau khi thăm Trường Trung-Học Phan-Thanh-Giản trong thành phố Cần-Thơ xong, chúng ta rời nơi đây để đi về hướng thành phố Long-Xuyên, bắt buc đi trên đường Nguyễn-Trãi, qua cầu Cái-Khế, rồi nối tiếp đường Cách Mạng Tháng Tám hướng về đường liên tỉnh 91 để đi : Bình-Thủy, Trà Nóc, Ômôn, Thốt Nốt, An-Giang, Kiên Giang … khoảng 5 cây số, về phía bên mặt (tay phải), chúng ta để ý sẽ thấy cổng tam quan ghi bằng chữ lớn màu đỏ: M Thủ Khoa Nghĩa 1974 (tọa lạc tại số 442 đường Cách Mạng Tháng Tám, cách cầu Bình-Thủy không bao xa). Được biết cổng này được xây dựng vào năm 1974 bằng ci-măng (le ciment) cốt thép, phần trên được đặt tượng lưỡng long tráng men màu xanh, nâu đỏ.

Đọc tiếp “Tưởng nhớ ông Thủ khoa Bùi Hữu Nghiã (1807-1872)”

Đăng trong Địa linh nhân kiệt

Nữ sĩ Sương Nguyệt Anh

Khoảng 1850, ông Nguyễn Đình Chiểu làm thày lang ở Tân Thuận đông, tỉnh Gia Định, kết duyên với bà Lê Thị Điều, người Cần Giuộc, Chợ Lớn. Được ba trai, ba gái, trong số này có bà Nguyễn Thị Khuê là con thứ tư, sinh ngày 24 tháng 12 năm quý hợi (1863). Vóc người mảnh mai, tư dung thanh nhã, lại nhờ sự chăm sóc dạy dỗ của thân phụ, nên sớm trở nên một trang tài sắc lẫy lừng. Song gặp lúc thời thế đảo điên, lòng người dáo dở, kén cá chọn canh mãi không tìm được nơi xứng ý, nên đến năm cha tạ thế, thiếu nữ đã 25 tuổi mà vãn giữ phòng không. Gia đình hồi ở Ba tri, trong vùng có ngự sử Lê Đình Trọng về hưu trí, mở trường dạy học. Vài ba thư sinh gấm ghé cô nữ sinh, nhất là Giảng và Xuyên. Một hôm ông đồ vắng nhà, hai anh đến chơi bàn luận văn chương.

Cô Năm Khuê ra câu:

Đằng tiểu quốc, sự Tề hồ, sự Sở hồ?

(Nước Đằng nhỏ, ở giữa Tề Sở, biết thờ nước nào?)

Đọc tiếp “Nữ sĩ Sương Nguyệt Anh”

Đăng trong Địa linh nhân kiệt

Cô Tám “Hàng Than”

Vào khoảng cuối thế kỷ trước (những năm sau 1890) ở vùng Nghệ Tĩnh, những ngày phiên chợ Tràng trên bờ sông Lam, có một thiếu phụ cùng một bé trai năm sáu tuồi, ngồi bán than. Mấy túi than này do cô chở đến trên con thuyền nhỏ tự tay chèo lái, không rõ xuất phát từ ngàn Hống hay ngàn Trươi là hai cánh rừng sâu rất hiểm trở trên dặng núi Hông.

Vốn người điềm đạm, nét mặt lại thường thoáng vẻ buồn, chỉ những lúc chợ vãn khách cô thủ thỉ đôi câu mưa nắng với mấy bạn hàng gần bên, người ta mới biết tên cô là Tám và quen gọi là cô Tám hàng than, thế thôi, chứ không biết gì hơn về cô. Cho nên cô là đề tài cho họ kháo nhau trong lúc “ngồi lê đôi mách”:

Đọc tiếp “Cô Tám “Hàng Than””

Đăng trong Kim Định, Nguồn gốc và văn minh Bách Việt

Nguồn gốc và quốc hiệu nước Việt Nam

ConRongChauTienKim Định

Theo truyền thuyết thì Đế Minh là cháu ba đời vua Thần Nông nhân đi tuần thú qua miền Ngũ Lĩnh lấy công chúa Vụ Tiên mà sinh ra Lộc Tục. Đế Minh phong cho người con trưởng là Lộc Nghi làm vua ở phương Bắc, còn Lộc Tục làm vua phương Nam xưng là Kinh Dương Vương lấy Long nữ con gái Động Đình Quân sanh ra Sùng Lãm về sau nối ngôi cha xưng là Lạc Long Quân. Đế Lai là con Đế Nghi sang ở phương Bắc, nhân nhớ tới họ hàng nên cùng Âu Cơ xuống Nam, về sau lấy Lạc Long Quân đẻ ra cái bọc một trăm trứng, nở ra một trăm con trai, rồi phong người con trưởng làm vua nước Văn Lang xưng là Hùng Vương truyền 18 đời trị vì được 2621 năm. Đến năm 258 bị nhà Thục dứt. Nhà Thục đặt tên nước là Âu Lạc (257-208). Đời Tần (214) chiếm lấy Âu Lạc và chia ra 3 quận. Đời Hán Triệu Đà (208-111) khôi phục lại và đặt quốc hiệu là Nam Việt.

Đọc tiếp “Nguồn gốc và quốc hiệu nước Việt Nam”

Đăng trong Địa linh nhân kiệt

Những cái chết của 15 vị Tướng QLVNCH từ 1955 đến trước và sau Quốc Hận 30.4.1975

Một Nén Hương cho Những Người Nằm Xuống!

BĐQ Đỗ Như Quyên

THIẾU TƯỚNG TRÌNH MINH THẾ

Sinh năm 1922, tỉnh Tây Ninh Việt Nam . Ngày 3-5-1955, trong lúc đang theo dõi các đơn vị của mình (quân đội Cao Đài) phối hợp với quân đội chính phủ tấn công lực lượng Bình Xuyên ở khu cầu Tân Thuận, tướng Trình minh Thế đứng trên một xe jeep tại dốc cầu, phía bên Sàigòn. Giữa tiếng nỗ của nhiều loại súng cách xa nơi ông đứng khoảng hơn 100m, có một viên đạn duy nhất không rõ ai bắn, đã trúng ngay đầu tướng Trình Minh Thế làm ông chết tại chỗ.

Đọc tiếp “Những cái chết của 15 vị Tướng QLVNCH từ 1955 đến trước và sau Quốc Hận 30.4.1975”

Đăng trong Chính trị, Văn hóa - Nghệ thuật

Chính trị và Văn hóa

Đông Lan

Sức mạnh của Văn Hoá có thể ngụ ý trong câu nói truyền tụng rộng rãi trong chúng ta mà ai cũng còn nhớ là “ Người làm thầy thuốc mà sai lầm thì hại một mạng người. Người làm chính trị mà sai lầm thì hại một thế hệ. Người làm văn hoá mà sai lầm thì hại đến muôn đời”.

Qua đó ta thấy chính trị có tính nhất thời, văn hoá có tính lâu dài hơn, ảnh hưởng của văn hoá vươn đến nhiều thế hệ. Nhìn trong lịch sử cổ kim, mỗi thời đại có những phong trào chính trị của từng thời đại ấy.Và chúng bị suy tàn ngay theo cá nhân hay tổ chức làm chính trị, cũng như nhanh chóng theo sự trôi chẩy chuyển biến của thời gian.

Đọc tiếp “Chính trị và Văn hóa”