Đăng trong Lê Trương, Văn hóa - Nghệ thuật

Phân tích các Phong trào Văn nghệ Tranh đấu tại miền Nam từ 1965 đến 1969: Phần 2 – Phong trào Da Vàng ca

Trịnh Công Sơn

Lê Trương

Vào năm 1966, cuộc chiến Việt Nam trở nên dữ dội hơn. Bom đạn trút xuống quê hương càng ngày càng nhiều, lính ngoại quốc đổ bộ lên đất nước càng ngày càng đông. Những phong trào tranh đấu ở các đô thị bị đàn áp tơi bời. Biến cố miền Trung được mang tên là “một cuộc nội chiến trong một cuộc nội chiến”: Máy bay, xe thiết giáp, lính thiện chiến của chính quyền trung ương Sàigòn tấn công các thành phố Huế, Đà nẵng.

Giữa lúc đó, cũng chính từ miền Trung, có một chàng lãng tử gầy ốm với vầng trán rộng và nụ cười héo hắt đã mang vào Nam hai bài ca nghe rất buồn thảm: bài Người già em bé và bài Ca dao mẹ. Một đám người tới với chàng, họ ngồi dưới đất, trong bóng tối và hát tuyệt vọng như những người nô lệ da đen đêm đêm ngồi than khóc phận mình. Từ đó, tiếng hát lan ra khắp các đô thị, tới đâu nó cũng đi sâu vào lòng người, làm rung lên như một dây đàn từ lâu chờ người gảy. Phong trào càng ngày càng dâng lên cao, nhất là sau biến cố Mậu Thân để rồi không có một sức mạnh nào ngăn cản nổi nữa. Chúng tôi gọi đó là phong trào DA VÀNG CA.

Đọc tiếp “Phân tích các Phong trào Văn nghệ Tranh đấu tại miền Nam từ 1965 đến 1969: Phần 2 – Phong trào Da Vàng ca”

Đăng trong Lê Trương, Văn hóa - Nghệ thuật

Phân tích các Phong trào Văn nghệ Tranh đấu tại miền Nam từ 1965 đến 1969: Phần 3 – Phong trào Dân ca

LyChieuHoangLê Trương

Năm 1966 dân ca bộc phát thành một phong trào. Bỗng nhiên giới thanh niên đô thị hướng về dân ca, sưu tầm dân ca, đem dân ca vào tập thể như đem một luồng gió mới. Tất cả những buổi văn nghệ cũng như những sinh hoạt khác đều có dân ca. Ai không biết một câu quan họ Bắc Ninh hay một điệu lý miền Nam là có thể bị chê ngay là xa cách đời sống dân tộc, không biết gì về dân tộc.

Trong những bài dân ca thịnh hành, chúng ta có thể kể đến: Lý ngựa ô, Lý con sáo, Xe chỉ luồn kim, Hát hội trăng rằm, Cây trúc xinh, Qua cầu gió bay v.v…Thanh niên đô thị đua nhau hát những bài đó, tiếng ca của họ là tiếng ca Việt Nam thuần tuý, không thể nhầm lẫn với nhạc Pháp, nhạc Mỹ hay nhạc Việt lai căng. Ngoài dân ca, còn có dân nhạc và dân vũ. Họ rất thích thú và hãnh diện khi được nghe dân nhạc Việt Nam, điển hình là buổi trình diễn dân nhạc của nhạc sĩ Nguyễn Hữu Ba tại trường Đại học Khoa học.

Đọc tiếp “Phân tích các Phong trào Văn nghệ Tranh đấu tại miền Nam từ 1965 đến 1969: Phần 3 – Phong trào Dân ca”

Đăng trong Lê Trương, Văn hóa - Nghệ thuật

Phân tích các Phong trào Văn nghệ Tranh đấu tại miền Nam từ 1965 đến 1969: Phần 4 – Phong trào Sử ca, Kháng chiến ca

trieutrinhnuongLê Trương

Trong một giai đoạn mà người ta không được nói thẳng cái cảm nghĩ hay thái độ của mình thì họ tìm cách nói gián tiếp, nhưng khi nghe thì ai cũng hiểu được ý muốn của họ. Đó là lý do xuất hiện của Phong trào Sử Ca, Kháng Chiến Ca.

Những bài sử ca như Khúc khải hoàn, Hội nghị Diên Hồng, Bạch Đằng giang, Thăng Long hành khúc, Gò Đống Đa v.v… là những bài gián tiếp chống thực dân trước đây. Đó là những bài dành cho quần chúng đô thị trong cuộc tranh đấu khéo léo, tế nhị. Những bài Kháng chiến ca như Lên đàng, Du kích sông Thao, Tiếng hát sông Lô, An phú đông, Nhạc tuổi xanh, Đường về quê v.v…là những bài dành cho cuộc tranh đấu trực tiếp chống lại thực dân Pháp vừa qua. Cả hai loại nhạc này nay lại được sinh viên học sinh Sài gòn phục sinh thành một phong trào khá rầm rộ nhằm tạo một cuộc tranh đấu gián tiếp tại các đô thị. Chúng tôi gọi đó là phong trào Sử ca, Kháng chiến ca. Đọc tiếp “Phân tích các Phong trào Văn nghệ Tranh đấu tại miền Nam từ 1965 đến 1969: Phần 4 – Phong trào Sử ca, Kháng chiến ca”

Đăng trong Lê Trương, Văn hóa - Nghệ thuật

Phân tích các Phong trào Văn nghệ Tranh đấu tại miền Nam từ 1965 đến 1969: Phần 5 – Phong trào Tranh đấu ca

Lê Trương

Đêm 27.9.1968 là đêm hội thảo của Sinh viên Học sinh Sài gòn về chiến tranh Việt Nam. Trụ sở Sinh viên Sài gòn trở nên rộn rịp lạ thường. Họ tập trung đông đảo quanh ngọn lửa hồng. Lửa rực sáng và những người con yêu dân tộc bắt đầu thay phiên nhau bằng giọng nói đanh thép, hùng hồn tấn công những âm mưu chiến tranh diệt chủng và cơ cấu thối nát của chế độ. Những khẩu hiệu được bung ra trong những cánh tay rắn chắt. Sau đó tiếng hát trổi dậy. Họ hát Sử ca, Kháng chiến ca.

Nhưng cũng vào đêm hôm đó, một bài ca mới xuất hiện, một bài ca rất nhẹ nhàng nhưng nghe lại vô cùng chua chát, một bài ca làm rung động dư luận trong và ngoài nước với những lời như sau:

Đọc tiếp “Phân tích các Phong trào Văn nghệ Tranh đấu tại miền Nam từ 1965 đến 1969: Phần 5 – Phong trào Tranh đấu ca”

Đăng trong Lịch sử địa dư, X.Y. Thái Dịch Lý Đông A

Việt Sử Thông Luận

LyThuongKiet1. TỔNG QUÁT

Sự diễn tiến lịch sử của một dân tộc bao giờ cũng ăn nhịp với bước tiến hóa của nhân loại cho nên trước khi bàn đến lịch sử của nòi Việt, chúng ta cần phải đặt định rõ sự tiến triển của loài người ra sao? Ta có thể chia lịch sử loài người ra làm 3 kiếp: Duy Nhiên kiếp, Duy Dân kiếp, và Duy Nhân kiếp.

1.1. Thời kỳ Duy Nhiên

Lúc này loài người chưa biết kết hợp thành bộ lạc với xã hội chưa có bản năng tiến hóa và tổ chức, nay đây mai đó, chỗ nào thích hợp thì ở, thời kỳ này theo Marx là thời mẫu hệ (sống theo mẹ, loài thú) và tự nhiên kinh tế, nhưng thật ra làm gì đã có kinh tế mà gọi là kinh tế tự nhiên, đó chỉ là sự hưởng thụ những gì của tự nhiên sẵn có, như con dê ăn lộc, con rắn ăn nhái, v.v… Đã sống theo tự nhiên như vậy thì loài người lúc ấy làm gì có kinh tế được vì kinh tế là do tổ chức mà ra, nên danh từ kinh tế tự nhiên theo Marx là không đúng. Đọc tiếp “Việt Sử Thông Luận”

Đăng trong Kim Định, Nguồn gốc và văn minh Bách Việt

Nguồn gốc và quốc hiệu nước Việt Nam

ConRongChauTienKim Định

Theo truyền thuyết thì Đế Minh là cháu ba đời vua Thần Nông nhân đi tuần thú qua miền Ngũ Lĩnh lấy công chúa Vụ Tiên mà sinh ra Lộc Tục. Đế Minh phong cho người con trưởng là Lộc Nghi làm vua ở phương Bắc, còn Lộc Tục làm vua phương Nam xưng là Kinh Dương Vương lấy Long nữ con gái Động Đình Quân sanh ra Sùng Lãm về sau nối ngôi cha xưng là Lạc Long Quân. Đế Lai là con Đế Nghi sang ở phương Bắc, nhân nhớ tới họ hàng nên cùng Âu Cơ xuống Nam, về sau lấy Lạc Long Quân đẻ ra cái bọc một trăm trứng, nở ra một trăm con trai, rồi phong người con trưởng làm vua nước Văn Lang xưng là Hùng Vương truyền 18 đời trị vì được 2621 năm. Đến năm 258 bị nhà Thục dứt. Nhà Thục đặt tên nước là Âu Lạc (257-208). Đời Tần (214) chiếm lấy Âu Lạc và chia ra 3 quận. Đời Hán Triệu Đà (208-111) khôi phục lại và đặt quốc hiệu là Nam Việt.

Đọc tiếp “Nguồn gốc và quốc hiệu nước Việt Nam”

Đăng trong Truyện ngắn - Hồi ký, Võ Thị Trúc Giang Lúa 9

Truyện rất ngắn

https://i0.wp.com/truyenratngan.com/images/logo.pngLá thư cuối cùng viết bằng máu

Nó là thằng cháu gọi chị Hiệp bằng cô ruột. Sau biến cố 75 cộng sản xâm chiếm miền Nam, ba nó, anh ruột của chị, là lính ngụy, bị bắt đi tù cãi tạo, sau khi ra khỏi tù anh bị suy sụp tinh thần tột độ, suốt ngày nhậu say sưa để quên đời, nuôi gia đình bằng những bát cơm thừa từ mót lúa ruộng của người.

Lần cuối cùng chị Hiệp nhận được lá thư của cháu, thư dính đầy máu, như sau: “Cô Hiệp ôi, đời con khổ tận cùng rồi, con vợ của con đã bỏ chồng, bỏ con lên thành phố làm đĩ, có một đêm con rình chờ nó về quê thăm nhà, khi nó đi ngang qua nghĩa địa, con đã nhào ra lấy dao đâm vào ngực và rạch nát mặt nó.

Đọc tiếp “Truyện rất ngắn”

Đăng trong Nguồn gốc và văn minh Bách Việt, Phạm Trần Anh

Cộng đồng Bách Việt: hiện thực Lịch sử của truyền kỳ “Trăm trứng nở trăm con”

Phạm Trần Anh

Chúng ta đang sống trước thềm của thiên niên kỷ thứ ba nên mỗi khi nghĩ về huyền thoại Rồng Tiên thì thoạt đầu, ai trong chúng ta cũng nghĩ rằng là truyện huyền hoặc, hoang đường. Dù có tự hào là con Rồng cháu Tiên nhưng với ý nghĩ đơn giản của đời thường, chúng ta vẫn hoài nghi vì trên đời làm gì có truyện người đẻ ra trứng, rồi trứng nở ra người? Với tất cả tấm lòng và thái độ trân trọng nghiêm chỉnh và với phương pháp nghiên cứu huyền thoại để tự đặt mình vào hoàn cảnh lịch sử thời cổ đại thì những ẩn ý hàm tàng trong huyền thoại sẽ gợi mở sáng tỏ, minh nhiên lý giải những vấn nan khúc mắc tự ngàn xưa. Có một thực tế mà chúng ta phải hiểu rõ đó là tất cả các dân tộc thời cổ đại đều tin tưởng thần linh chở che trong mọi sinh hoạt cuộc sống. Thật vậy, khi con người vừa bước ra khỏi thời kỳ ăn lông ở lỗ của thuở hồng hoang để bước vào hình thái xã hội ban sơ, con người cảm thấy nhỏ nhoi trước sức mạnh kỳ bí của thiên nhiên nên yếu tố thần linh ngự trị trong mọi sinh hoạt của họ.
Đăng trong Bút Xuân Trần Đình Ngọc, Vườn thơ

Tôi có hai bảo vật

Tôi chấp nhận được anh
Dù anh quá đành hanh (1)
Nhưng không chấp nhận Chệt
Kẻ khác máu, lòng tanh

Tôi làm tôi Quang Trung
Đánh voi cho Bà Trưng
Tôi làm quân bà Triệu
Lắc đầu với rợ Hung (2)

Tôi lau giầy Nguyễn Biểu
Bưng điếu Lý thường Kiệt
Đạp mặt Mạc đăng Dung
Chửi ba đời Chiêu Thống

Đọc tiếp “Tôi có hai bảo vật”

Đăng trong Chuyện dân tôi, Huy Phương

Lợi dục và dối trá

Tạp ghi Huy Phương

“Lợi dục không có phương châm nhất định, nó tùy phương hướng mà thay đổi, nó tùy thời buổi mà đổi thay, tùy công việc mà châm chước.” – (J. B. Bossuet 1627-1704)

Phó chủ tịch kiêm giám đốc điều hành Western Union khu vực Châu Á-Thái Bình Dương, bà Drina Yue đã cho biết, Việt Nam là một trong mười sáu thị trường nhận tiền nước ngoài lớn nhất thế giới, vì Việt Nam hiện nay có khoảng bốn triệu người, trong đó có khoảng bốn trăm nghìn người lao động đang làm việc, sinh sống ở trên một trăm quốc gia trên thế giới. Năm 2010, kiều hối đã tăng lên 8.26 tỷ USD và năm 2011 đến con số đạt 9 tỷ USD. Con số này cao hơn mười lần con số tám mươi triệu mà Quốc Hội Mỹ làm ngơ không cứu VNCH năm 1975, nhưng hiện nay đồng bào hải ngoại, phần lớn đã bỏ nước ra đi vì cộng sản, mong một ngày về với đất nước không cộng sản, nhưng chính họ lại tiếp tay chắt bóp để nuôi cộng sản. Bạn có biết là số ngoại tệ này đã giúp Việt Nam ổn định, bù đắp thiếu hụt cán cân thanh toán vãng lai, mà cho đến nay, Việt Nam vẫn chưa có chính sách căn bản về việc này.

Đọc tiếp “Lợi dục và dối trá”