Rồng Tiên khai Quốc: Xây dựng con người, kết hợp xã hội, quy luật đấu tranh tự vệ và bí quyết thoát vòng nô lệ

LacLongQuan-AuCoBài này gồm 4 phần:
• Giáo Khoa dành cho Học Viên
• Tham Luận dành cho Giảng Viên
• Mở rộng kiến thức
• Thực tập

Phần giáo khoa gồm 3 cấp:
a) Cấp 1 dành cho Thiếu Nhi (dưới 11 tuổi)
b) Cấp 2 dành cho Thiếu Niên (từ 11 đên 17 tuổi)
c) Cấp 3 dành cho Tráng Niên (từ 17 đến 20 tuổi)
Sau đó là Thanh Niên (trên 20 tuổi) đã trưởng thành nên tự học lấy, vì đã đủ học lực để tự nghiên cứu lấy vấn đề cần phải làm. Tương lai đất nước nằm trong tay Thanh Niên.
Thanh Niên là rường cột đất nước, là tương lai dân tộc.
• Thanh niên sa đọa thì đất nước suy vong,
• Thanh niên Dũng Khí thì đất nước hưng thịnh, hùng cường.
• Thanh niên ù-lỳ, vô cảm, lơ-là, u muội thì dân tộc tiêu vong.

NGUỒN GỐC DÂN VIỆT
Phần căn bản dùng cho mọi lứa tuổi
Tục truyền rằng:
Phần 1: Phần dựng nước
Vua Đế Minh đi tuần thú phương nam, gặp Tiên Nữ ở phía nam dãy núi Ngũ Lĩnh lấy làm vợ và sanh ra Lộc Tục.
Phong cho Lộc Tục làm vua ở phương nam; còn Đế Nghi là anh cùng cha khác mẹ thì làm vua ở phương bắc (lấy núi Ngũ Lĩnh và sông Dương Tử làm ranh giới).
Lộc Tục chọn vương hiệu là Kinh Dương Vương, lấy Long Nữ ở hồ Động Đình, sinh ra Sùng Lãm.
Sùng Lãm nối ngôi cha, lấy vương hiệu là Lạc Long.
Lạc Long lấy Âu Cơ là dòng dõi tiên, đẻ ra 100 trứng, nở 100 con. Tạo ra 100 giống Việt (bách Việt); nhưng tất cả đều cùng chung một một lò Lạc Long tạo ra. Đó là giống Việt.

Tất cả gọi nhau là Đồng Bào. Lấy quốc hiệu là Văn Lang. Lấy màu vàng của tơ tầm làm sắc thái của dân Việt.
Giống Việt là giống của Lạc Long, con cháu Rồng Tiên; vì mẹ ông là Rồng và bà nội của ông là Tiên. Tức ông Lạc Long là con của Rồng và cháu của Tiên (Con Rồng, Cháu Tiên là thế đó).
• Đó là tóm lược truyền thuyết về sự dựng nước của Thủy Tổ Lạc Long và Âu Cơ.

Phần 2: Phần giữ nước
Sau đó 50 con theo mẹ lên núi để bảo vệ bờ cõi phía bắc; còn 50 con theo cha ra biển để bảo vệ bờ cõi phía đông.

Lúc chia tay thì cha Lạc Long có ân cần căn dặn là
“Chừng nào giặc thù đến cướp phá, chống đỡ không nổi thì gọi Bố ơi! về cứu chúng con”

• Đó là tóm lược truyền thuyết về việc giữ nước của toàn dân Việt.
Chú thích:
Núi Ngũ Lĩnh nằm trong dãy núi Tần Lĩnh trên sông Dương Tử .
Sông Dương Tử còn gọi là sông Trường Giang chảy ra thành phố Thượng Hải.
Dương là màu xanh nước biển, phản ảnh của ánh sáng mặt trời vì nước sâu như ngoài biển cả.
Tử là màu Tím cũng là phản ảnh của ánh nắng mặt trời vì nước trong và lặng.
Dương Tử giang là khúc sông có màu xanh da trời và màu tím, đó là hiện tượng của nước vừa trong, vừa sâu, vừa lặng và vừa rộng. Nước trong là vì nguồn không có phù sa hay cát mà chỉ có đá vôi. Lặng là vì có hồ Động Đình rộng bao la và hồ Phiên Dương ở hạ lưu làm bồn chứa điều hành lưu lượng.
Hồ Động Đình nằm bên cạnh dãy núi Hoài là ranh giới nước Ngô và nước Sở.

Quan niệm của người xưa về vũ trụ và âm ty:
– Trời che, đất chở.
– Trời tròn đất vuông.
– Đi hết biển thì tới chân trời; từ đây đi ngược lên thì tới Thiên Đình mà chủ là Ngọc Hoàng Thượng Đế.
– Động là nơi ở của siêu nhân, còn hang là nơi ở của người trần tục.
– Đình là nơi họp họp Triều Thần.
– Hồ Động Đình là nơi họp của Long Vương dưới Thủy Cung.

Do đó mới tưởng tượng như sau:
• Thiên Đình là nơi họp của Hoàng Ngọc Thượng Đế (tức ông Trời). Trên Thiên Đình có Nam Tào, Bắc Đẩu, có ông Thiên Lôi (sấm), có bà La Sát (sét); có ông Thiện và ông Ác.
• Dưới đất thì có Triều Đình, trong có ông Vua và các cận thần giúp việc được gọi là Triều Nhân hay bề tôi của vua; giúp vua quản trị đất nước. Có Trung Thần, có Nịnh Thấn và có Can Thần
• Dưới Thủy Cung (biển cả bao la hay hồ rộng mênh mông) thì có ông vua gọi là Thủy Tinh và các quần thần để cai quản loài tôm cá, nghêu sò.
• Trên núi thì có Thần Núi gọi là Sơn Tinh cùng các quần thần để coi sóc cầm thú và thảo mộc.
• Trong Hồ Động Đình thì có Long Vương và quần thần.
• Trong sông ngòi thì cá Hà Bá: Hà là sông, còn Bá là chức do vua phong dưới chế độ Phong Kiến nhà Chu: Công, Hầu, Bá, Tử, Khanh. Tùy chức to hay nhỏ thì được phong cho đất rộng hap hẹp. Từ đó tự quản trị lấy; miễn là nộp thuế đầy đủ thì thôi….Đây là Vua ăn bám các Chúa mỗi vùng. Ngồi không thu tiền.
• Dưới Âm Phủ thì cũng tương tự như trên Thiên Đình nhưng các vị đều hung dữ như Quỷ Sứ, vì vậy mới có danh từ Diêm Vương để trị tội người ác đức. Các cụ vẫn khuyên con cháu ăn ở để đức lại cho con là thế đó.

Bản đồ lục địa nước Tàu ngày hôm nay
Bản đồ này do Trần Nguyên Trụ vẽ theo Trung Hoa Nhân Dân Cộng Hòa Quốc (1974)
Đường trở về quê cũ sau khi Đại Hồng Thủy rút xuống 10,30 thước tây: 6.000BC đến 3.500 BC (trung bình mỗi năm rút xuống 0,41cm)

• Dân nông nghiệp (theo nhân chủng học thì là giống người HOMO SAPIENS) từ Nam Dương và Phi Luật Tân di lên Hy-Mã-Lạp sơn khi nước dâng. Từ 13.000BC đến 6.000BC nước dâng cao cả thảy là 141 thước tây. Khi trước người Homo Sapiens sống ở ven biển Đông. Lúc này từ Trung Đông đến Á Châu tuyết phủ đầy, không sống được.

• 2 triệu năm về trước, con người đầu tiên xuất hiện ở Phi Châu (vùng Ethiopie và Somalie ngày hôm nay), vì da không có lông ấm nên chỉ sống được ở vùng nhiệt đới thôi. Về sau kiếm ra lửa nên đi khắp địa cầu; nhưng chỉ có 2 nhánh quần cư đáng kể vì tự tạo ra đưọc lương thực. Đó là:

o Du-Mục: Một nhánh tiến lên IRAN và trụ ở đó rồi thành dân du-mục, tiếp tục theo đồng cỏ tiến lên phía Bắc rồi lan sang phía Đông và phía Tây (Âu Châu). Nhánh phía Đông khi tới Mông-Cổ thì tràn xuống phía Nam gặp dân nông nghiệp ở sông Hoàng Hà, đó là nhà Hạ (XIA): Theo huyền thoại là con cháu Đế Nghi. Nhưng sự thực là cướp đất của con cháu Đế Nghi. Con cháu Đế Nghi cũng thuộc sắc dân nông nghiệp.

o Nông Nghiệp: Một nhánh men theo ven biển đông (Mã Lai, Nam Dương và Phi Luật Tân) rồi thành dân Nông Nghiệp có cuộc sống quần cư và ổn cư. Đó là Miêu tộc (Miêu có nghĩa là Mễ, ngũ cốc). Theo huyền thoại là con cháu Lộc Tục. Người Tàu phát âm chữ MIÊU thành chữ MAN; người Việt phát âm chữ MAN của Tàu thành chữ MÁN.

o Chuyện Rồng Tiên kể lại trận đánh giữa Việt và Ngô; khoảng 600BC.

Phân 1 : Giáo khoa

Cấp 1: Thiếu nhi (dưói 11 tuổi):
Hãnh diện là con dân đất Việt

Học thuộc lòng bản văn này:
Tục truyền rằng: Vua Đế Minh đi tuần thú phương Nam, gặp Tiên Nữ ở phía nam dãy núi Ngũ Lĩnh lấy làm vợ và sanh ra Lộc Tục.
Phong cho Lộc Tục làm vua ở phương Nam; còn Đế Nghi là anh cùng cha khác mẹ thì làm vua ở phương Bắc (lấy núi Ngũ Lĩnh và sông Dương Tử làm ranh giới).
Lộc Tục chọn vương hiệu là Kinh Dương Vương, lấy Long Nữ ở hồ Động Đình, sinh ra Sùng Lãm.
Sùng Lãm nối ngôi cha, lấy vương hiệu là Lạc Long.
Lạc Long lấy Âu Cơ là dòng dõi tiên, đẻ ra 100 trứng, nở 100 con. Tạo ra 100 giống Việt (bách Việt); nhưng tất cả đều cùng chung một một lò Lạc Long tạo ra. Đó là giống Việt.

Tất cả gọi nhau là Đồng Bào. Lấy quốc hiệu là Văn Lang. Lấy màu vàng của tơ tầm làm sắc thái của dân Việt.
Giống Việt là giống của Lạc Long, con cháu Rồng Tiên; vì mẹ ông là Rồng và bà nội của ông là Tiên. Tức ông Lạc Long là con của mẹ Rồng và là cháu của bà Tiên.
• Đó là tóm lược truyền thuyết về sự dựng nước của Thủy Tổ Lạc Long và Âu Cơ.

Bài giảng cho cấp 1 : Thiếu nhi dưới 11 tuổi
Góp ý với giáo viên.
Mục đích của bài học này là để các em hãnh diện là con cháu Rồng Tiên, cố gắng noi gương đức độ Rồng Tiên, và biên cương đầu tiên của nước Văn Lang lên đến tận Hồ Động Đình và dãy núi Ngũ Lĩnh nằm trong dãy núi Tần Lĩnh ở sông Dương Tử chảy ra thượng Hải.

Do đó, giáo viên là phải làm sao để các em hãnh diện về dòng giống Rồng Tiên của mình. Hãnh diện mình là người Việt với Khí Phách Rồng Tiên, Văn Hóa Lạc Hồng.

Nói rõ các địa danh trên đất Tàu còn tồn tại cho đến ngày hôm nay để nhắc nhở các em là một phần đất của nước Văn Lang đã bị bọn Tàu xâm lấn. Khi lớn lên, nếu không đủ khả năng đòi về thì ít nhất cũng đừng để mất thêm. và phải cảnh giác đề phòng bọn người phương Bắc luôn luôn mưu mô để chiếm đoạt nước của ta.

Tóm lại là giảng bài làm sao để gây được tinh thần dân tộc, tinh thần tự chủ làm căn bản trong lòng các em.
• Tức là trau dồi Tâm và Hồn của dân tộc Việt trong trái tim và bộ óc của các em.
———————————————————–

Bài giảng cho cấp 2 : Thiếu niên (từ 11 đến 17 tuổi)
Triết Lý Rồng Tiên dựng nước và giữ nước

Trước hết phải học đi học lại cho thấm nhuần câu chuyện Rồng Tiên Khai Quốc vào tim vào óc.

Sau đó mới nói triết Lý của câu chuyện này là thông điệp của người xưa truyền đạt kinh nghiệm cho hậu thế vế cách:
1. Xây dựng con người (gọi là Việt Giáo)
2. Xây dựng xã hội (gọi là Việt Đạo)
3. Quy luật đấu tranh tự vệ (gọi là Việt Triết).
4. Bửu bối thoát vòng nô lệ (gọi là Học Thuyết Thoát Hiểm).

Phần Giáo Khoa cấp 2:
Tục truyền rằng:

Phần 1: Phần dựng nước (Giáo Khoa cấp 2)
Vua Đế Minh đi tuần thú phương Nam, gặp Tiên Nữ ở phiá Nam dãy núi Ngũ Lĩnh lấy làm vợ và sanh ra Lộc Tục.
Phong cho Lộc Tục làm vua ở phương Nam; còn Đế Nghi là anh cùng cha khác mẹ thì làm vua ở phương Bắc (lấy núi Ngũ Lĩnh và sông Dương Tử làm ranh giới).
Lộc Tục chọn vương hiệu là Kinh Dương Vương, lấy Long Nữ ở hồ Động Đình, sinh ra Sùng Lãm.
Sùng Lãm nối ngôi cha, lấy vương hiệu là Lạc Long.
Lạc Long lấy Âu Cơ là dòng dõi tiên, đẻ ra 100 trứng, nở 100 con. Tạo ra 100 giống Việt (bách Việt); nhưng tất cả đều cùng chung một một lò Lạc Long tạo ra. Đó là giống Việt.

Tất cả gọi nhau là Đồng Bào. Lấy quốc hiệu là Văn Lang. Lấy màu vàng của tơ tầm làm sắc thái của dân Việt.
Giống Việt là giống của Lạc Long, con cháu Rồng Tiên; vì mẹ ông là Rồng và bà nội của ông là Tiên. Tức ông Lạc long là con của Rồng và cháu của Tiên.
• Đó là tóm lược truyền thuyết về sự dựng nước của Thủy Tổ Lạc Long và Âu Cơ.

Ghi chú: Ngày hôm nay danh xưng Hồ Động Đình và địa danh núi Ngũ Lĩnh vẫn còn. Điểm này cho ta thấy đây là bài Diệt Ngô Đại Cáo sau khi Việt Vương Câu Tiễn sát nhập nước Ngô vào nước Văn Lang vào khoảng 600BC.
Lúc đó giấy bút chưa thịnh hành nên 2 ông Phạm Lãi và Văn Chủng soạn thành bài văn truyền khẩu với nhiều tình tiết Thần Thoại hóa câu chuyện cho dễ nhớ.

Phần 2: Phần giữ nước (Giáo Khoa cấp 2)
Sau đó 50 con theo mẹ lên núi để bảo vệ bờ cõi phía bắc; còn 50 con theo cha ra biển để bảo vệ bờ cõi phía đông.
Lúc chia tay thì cha Lạc Long có ân cần căn dặn là
“Chừng nào giặc thù đến cướp phá, chống đỡ không nổi thì gọi Bố ơi! về cứu chúng con”
• Đó là tóm lược truyền thuyết về việc giữ nước của toàn dân Việt.

Phần Tham Luận cấp 2
Mục đích của bài học là giải mã huyền thoại để đọc được Thông Điệp người xưa lưu truyền bằng bia miệng; vì lúc đó chưa có giấy bút.

Do đó Giáo Sư phải giải nghĩa các danh từ cho rõ tâm tư người xưa đã ký thác. Sau đó nói rõ địa danh để biết bản Tuyên Ngôn Chủ Quyền của tổ tiên chúng ta..
Sau đó mới nói rõ triết lý của câu chuyện là bài Bình Ngô Đại Cáo viết bằng bia miệng vì lúc đó chưa có giấy bút, nên phải truyền tụng bằng bia miệng để ai ai cũng muốn nghe và muốn kể lại cho người khác nghe; nhất là huyền thoại cho con trẻ
Trăm năm bia đá cũng mòn,
Ngàn năm bia miệng vần còn trơ trơ. (ca dao)

Các danh từ phải định nghĩa theo người viết bản văn này, chứ không phải theo ý kiến của hậu thế. Đây là bản văn được 2 ông Phạm Lãi và Văn Chủng soạn dể truyền đạt kinh nghiệm đấu tranh 20 nằm gai nếm mật của Lãnh Vương và toàn dân trong vùng Lạc Việt (tức Quảng Đông ngày hôm nay; lúc đó, 6000BC, là một tiểu bang của nước Văn Lang)

Ý nghĩa ngôn từ:
• Đế Minh : Đế là chúa-tể một cõi. Minh là sáng. ĐẾ MINH là người sáng tạo ra trái đất
• Tiên nữ : Cô Tiên, thông minh, mưu lược và hiền hậu hơn người trần gian
• Núi Ngũ Lĩnh: Núi này nằm trong dãy núi Tần Lĩnh ở sông Dưong Tử chày ta Thượng Hải. Ngày hôm nay vẫn còn danh xưng này.
• Lộc Tục : Hàm ý là cha đẻ ra nhân loại. Lộc là trồi là nhụy. Tục là cõi trần gian.
• Kinh Dương Vương : Kinh là lớn, người Kinh là người đông nhất. Kinh đô là thành phố lớn nhất. Dương Vươnglà ông vua trên cõi trần thế. Kinh Dương Vương là tên hiệu tự đặt cho mình. Còn Lộc Tục là ông Đế Minh đặt cho con mình khi mới chào đời để nói ước nguyện của ông.
• Long nữ: Cô gái Rồng thuộc sinh vật có tài năng và sức khỏe vượt bực, hơn người trần gian.
• Hồ Động Đình : Hồ là nơi chứa nước rất rộng, sâu và đầy huyền bí. Động là nơi cư ngụ của siêu nhân, còn hang là nơi cư ngụ của người trần gian. Đình là lâu đài, nơi hội họp triều thần..Ở đây là nơi họp của Triều Đình Long Vương dưới thủy cung.
• Sùng Lãm : Sùng là kính trọng, Lãm là nhìn. Ý vua cha là Kinh Dưong Vương muốn con nối ngôi có tài đức siêu việt để ai ai cũng kính trọng và kiên nể.
• Lạc Long Quân : Là ông vua Rồng đem lại sự an lạc cho nguời dân, vì ông hấp thụ được tinh hoa của mẹ là Rồng và của bà là Tiên. Lúc đó dân ta theo mẫu hệ. Đây là tên hiệu mà ông đặt cho chính ông.
• Âu Cơ : Là lấy tìm người làm trọng. Âu là yêu, thuộc về tim. Cơ là căn bản (cơ bản). Người Việt theo mẫu hệ nên tên người đàn bà bao giờ cũng có chữ CƠ thay cho chữ THỊ của người Tàu. Thị có nghĩa là con gái.
• Việt : Là Vượt mọi trở ngại để thăng tiến cùng người, tức tinh thần Cầu Tiến.
• Đồng Bào : Đồng là cùng, Bào là Bọc. Đồng Bào có nghĩa là anh em ruột thịt cùng một bọc 100 trứng mà ra.
• Văn Lang: Văn là đẹp, Lang là người Hào-hoa, Phong-nhã; Phóng-khoáng, Hào-hiệp và Lịch-sự, Bặt-thiệp.
• Sắc thái dân Việt : Sắc là màu sắc Thái là lớn nhất. Sắc Thái là chọn màu tượng trưng cho đặc tính Rồng Tiên. Tổ tiên người Việt chọn màu VÀNG của lụa tơ tầm tượng trưng cho dân tộcRồng Tiên. Còn Vua Tàu chọn màu đỏ của mặt trời để tượng trưng cho Thiên Tử (con ông trời). Còn màu đỏ của chủ nghĩa Cộng Sản là màu máu của thua trận; lấy máu nhuộm cờ. Giết càng nhiều thì thành công càng vĩ đại. Nhất tướng danh thành, vạn cốt khô.

Giáo sư tự mình chọn cách giảng giải miễn sao cho:

Phần dựng nước lột được tinh thần của thông điệp người xưa như:
• Tuyên Xưng Chánh Nghĩa
• Cha đẻ ra nhân loại.
• Lai giống do mẫu hệ: Lộc Tục và Sùng Lãm . Người Việt theo mẫu hệ: Con hư tại mẹ, cháu hư tại bà. Còng người tài theo phụ hệ; đàn bà là sở hữu chủ của đàn ông; mặc dù là đứa con của mình nó bảo thì mìnhphải vâng không được cãi. Tại gia tòng phụ. Xuất giá tòng phu. Phu tử tòng tử (TAM TÒNG)

Phần giữ nước lột được tinh thần của thông điệp người xưa như:
 Xây dựng con người: Tự Lực, Tự Cường, Tự Trọng và Cầu Tiến.
 Xây dựng xã hội Văn Lang để tạo tinh thần đoàn kết: Kết hợp với nhau bằng Tâm, cư xử với nhau bằng Đức. Bình đẳng tột cùng, Thương thân tột độ.
 Quy Luật đấu tranh Tự Vệ: Cương quyết tiêu diệt kẻ thù, không nhân nhượng; như không được trả thù hay truy kích trong khi đấu tranh đòi lại cái gì mình mất…Không những vậy còn phải Độ Lượng và Bao Dong với kẻ thù sau khi chiến thắng để chấm dứt hận thù, sống trong hài hòa.
 Bí quyết thoát vòng nô lệ:
“Chừng nào giặc thù đến cướp phá, chống đỡ không nổi thì gọi Bố ơi! về cứu chúng con”

Ẩn dụ là:
1. Chỉ đích danh giặc thù (giặc u tối trong lòng do lạc hồn dân tộc là giặc mẹ đẻ ra muôn ngàn giặc con)
2. Cố chống mà không nổi (chứng tỏ quyết tâm mà không xong, tức phải Tự Lực, Tự Cường cái đã. Vì tinh thần tự trọng nên không ỷ lại vào thần thánh hay ngoại bang mà kêu Bố, người cùng huyết thống về cứu)
3. Gọi Bố về cứu (Bố là Văn Hóa Việt Tộc, là kinh nghiệm đấu tranh của tổ tiên, là học thuyết Việt Tộc, là lịch sử dân Việt…..Đây là yếu tố khôi phục lại Tâm Việt và Hồn Việt thì mới kết hợp dân tộc được

Cấp 3 : Tráng niên (từ 17 đến 20 tuổi)

Phần Giáo khoa: Giải mã huyền thoại
Giải thích huyền thoại và thảo luận cùng sinh viên về triết lý của dân Việt

Câu chuyện này được chia làm 2 đoạn phân minh:
Đoạn thứ nhất:
Từ Lộc Tục đến Lạc Long, trăm trứng trăm con: Đây là đoạn được thêm vào cho có đầu có đuôi để nói rõ lên 3 điểm chính là:
1)- Minh xác chủ quyền trên phương diện pháp lý: Nam quốc Sơn Hà Nam Đế Cư.
• Nay chúng ta gọi là tuyên xưng chánh nghiã trước khi khai chiến.
2)- Có lý luận theo đầu óc khoa học hẳn hoi.
• Biến hoá tuần tự theo quy luật của tạo hoá; chứ không phải tự nhiên trên trời rơi xuống, dưới đất chui lên. Thần thông biến hoá như các thuyết cùng thời.
3)- Nói lên nếp sống thời đó:
• Nam Nữ bình quyền, và bình luôn cả trách nhiệm cùng bổn phận đối với dân với nước.

Đoạn thứ hai:
Từ trăm trứng, trăm con đến 50 con theo mẹ (nữ tướng Âu Cơ) lên núi và 50 con theo cha (nam tướng Lạc Long) ra biển để:
Cắm cờ giữ đất, bảo vệ giang sơn với tinh thần Tự-lực, Tự-cường và Tự-trọng.
Đây là lúc toàn thể dân Việt sửa soạn binh đội để chống xâm lăng, bảo vệ bờ cõi. Đây là hình ảnh Toàn Dân Kháng Chiến, Toàn Diện Đấu tranh dưới thời lãnh vương Lạc Việt tên là Câu Tiễn, 600 năm trước Thiên chúa ra đời.
Đây là triết thuyết Việt Tộc, nói lên 20 năm đấu tranh chống Ngô Phù sai của Việt Vương Câu Tiễn. Đây là hình ảnh nước Văn Lang dưới thời loạn, nói lên quy luật đấu tranh để tự tồn.
Thuyết này dựa trên tâm tình và khả năng của dân tộc Việt. Sau khi phân tích, quý vị sẽ thấy bàng-bạc trong huyết quản của mình có ít nhiều đặc tính này mà ta gọi là bản sắc dân tộc. Chữ bản có nghiã là gốc, là rễ; còn sắc là màu sắc có nghiã là đặc tính.

Phần Tham Luận cho cấp 3 :Tráng niên (từ 17 đến 20 tuổi)
Mục đích là đối thoại để các em đóng góp và phê bình thông điệp này

Đây là phần góp ý cùng Giảng Viên:
Giáo viên là thày giáo tiểu học.Giáo sư là thày giáo trung học.Giảng viên là thày giáo dạy Đại Học, có khả năng soạn bài (tức soạn giả). Giảng sư là thày dạy Đại Học, có khả năng viết bài giảng dạy về thành quả công trình khảo cứu của mình (tức tác giả)

Dù muốn dù không thì chúng ta cũng phải công nhận là:
• Thuyết này không những đã cho chúng ta niềm tự hào về Khí Phách Rồng Tiên, Văn Hóa Lạc Hồng mà còn giúp cha ông chúng ta giữ vững được nền tự chủ trong suốt 18 Triều đại Hùng Vương kéo dài 2.622 năm (2.879-257BC) trước sức công phá liên miên của ngoại xâm; lúc đó là nước Ngô, một thế lực mạnh nhất vùng thời đó.
• Không những vậy còn giúp hậu thế có tinh thần quật khởi và bất khuất trước sức mạnh của kẻ thù.
• Ngay như ngày hôm nay chúng ta vẫn tự hào về danh xưng: Rồng Tiên, Lạc Hồng, Văn Lang, Việt Tộc, Đồng Bào…. để nhắc nhở tinh thần đoàn kết và bất khuất; mặc dù chúng ta chưa hiểu rõ thông điệp này. Đó là sức mạnh Tâm Linh; tức sức mạnh của trái Tim Việt và Mưu Lược (trí óc) của dân Việt mà ta gọi là Tâm Việt và Hồn Việt cho dễ nhớ. Lịch sử đã chứng minh chỉ một lời khuyên mà dân ta thoát hiểm họa tiêu vong……đó là lời ông Nguyễn Phi Khanh khuyên con là Nguyễn Trãi hãy lo việc nước đi. Đừng vì Tiểu Hiếu mà quên Đại Hiếu…Về đi con ơi, về đi con ơi! Nuốt hận xưa nhìn nước non sông nhà.

Phần vụ của Giảng Viên:
Hướng dẫn sinh viên đóng góp ý kiến, tập lý luận để gây tinh thần độc lập.
Ở lứa tuổi sinh viên sắp bước chân vào đời nên cần có tinh thần tự chủ, giống như con chim sắp biết bay thì mẹ dạy cách bay chuyền rồi bay bổng, sau đó tự do bay lượn để kiếm ăn.
Sau khi giảng dạy thì Giảng Viên phải để cho các sinh viên tự do hội luận xem tư tưởng và cung cách sống của người xưa đúng hay sai, và nay theo các em thì phải thay đổi như thế nào. Khôngnnên bắt các sinh viên phải phán đoán như mình;làm như vậy là làm thui chột ý chí dấn thân bảo vệ chủ quyền của đất nước.
Giảng viên có thể tham khảo phần mở mang kiến thức ở dưới.

Phần 3: Mở rộng kiến thức

Triết Lý trong chuyện Rồng tiên
Quy luật đấu tranh để tự tồn của dân Việt.
*********
Đôi lời giới thiệu của Ban Tế Tự PARIS:

Bài thuyết trình này được trích trong cuốn Việt Nam Khai Quốc Bình Sử Thư của soạn giả Hoàng Đức phương.
Bài này đã được trình bày trong buổi hội-thảo dưới chủ đề: Tìm hiểu nguồn gốc dân tộc ta do Ban Tế Tự Paris đảm trách nhân ngày Quốc Tổ, và cũng là dịp kỷ niệm 210 năm chiến thắng Đống Đa, được tổ chức tại Paris vào ngày 08/04/1989 trong bàu không khí trang nghiêm và rất thân mật.
Các vị ghi danh tham dự đều có bảng INOX ghi tên để trước mặt. Mọi người đều được quyền nghe và được quyền nói thỏa mái trong tình đồng bào ly hương.
• Ban Tế Tự Paris xin ghi lại, và hân hạnh giới thiệu đến quý vị bài thuyết trình này.
——————————–

Quy luật tổng quát:
Tiến trình biến hóa của xã hội loài người.

Kính thưa quý vị,
Chúng tôi rất hân hạnh được trình bày sử quan của chúng tôi ở thời điểm khai quốc để phác họa rõ-ràng nếp sống của tổ tiên ta ở thời điểm cách đây đã gần 5.000 năm.
Ngay ở thời điểm khai quốc, Tổ tiên ta đã có học-thuyết cho cuộc sống để phân định rõ Ta và Thù; không những vậy lại còn vạch rõ con đường phải theo nếu muốn tồn tại. Đó là Việt Đạo, tức đạo sống của dân Việt.
Ngày xưa gọi là triết-lý về sự sống, nay ta gọi là Lý Tưởng hay Ý Thức Hệ. Nay chúng tôi xin được tạm gọi là:
Triết Thuyết Việt Tộc.
Nghiã là tư tưởng của dân Việt về đạo sống của con người trong vũ-trụ.

Chúng tôi không dùng chữ Việt Nam, mà dùng chữ Việt Tộc. Vì chữ Việt Tộc có ý-nghiã rộng hơn chữ Việt Nam rất nhiều. Vậy xin quý vị tạm thời chấp nhận như vậy để chúng ta đàm thoại cho dễ.
Chúng tôi cũng xin dùng chữ Khai Quốc để chỉ rõ thời điểm dân tộc Việt đã công khai tuyên-bố sự hợp thức hoá chủ quyền của mình đã có từ thời khởi thủy trên lãnh thổ Việt.
Chữ khai quốc có khác với chữ Lập Quốc hay Dựng Nước. Vì vậy nên chúng tôi dùng chữ khai quốc với ý-nghiã pháp lý:
Nam quốc Sơn Hà Nam Đế Cư.

Ở thời điểm khai quốc, Tổ Tiên ta đã vạch rõ con đường Việt Đạo như sau:
Tự Lực, Tự Cường và Tự Trọng.

Muốn tồn tại thì phải theo kịp đà tiến hóa của nhân loại. Tức song song đồng tiến với người, nhưng không bao giờ hòa đồng với người cả. Đây là tinh thần Cầu Tiến được ký thác trong danh từ: Việt.

Thêm vào đó, tổ tiên ta còn có đầu óc thực-tiễn, không màu-mè viển-vông, không huyên-hoang dối-trá. Tổ tiên xác quyết rõ-ràng rằng:
Giá-trị của xã-hội phải lấy giá-trị của cá-nhân làm căn-bản.
Sự xác quyết này được minh-chứng bằng danh từ: Văn Lang.
Tổ tiên ta còn quan niệm rằng: Xã-hội muốn được tồn tại, yên vui thì không những phải có sự Bình Đẳng, Bình Quyền; Tương thân, Tương Ái mà còn phải có sự Hòa Đồng dân tộc với nhau nữa.
Ý niệm này đã được ký thác ngay trong danh từ: Đồng Bào.

Vậy thì, ngay từ thời điểm khai quốc dân tộc Việt đã có đầu óc dân chủ mà ở Âu Châu phải đợi mãi tới thế kỷ thứ 18 mới có cách mạng đòi dân chủ và tốn biết bao xương máu.

Vì hôm nay là cuộc phân tích sử-liệu ở thời điểm khai quốc để đem Tâm Việt vào con người Việt, để trang-bị tư-tưởng con người Việt bằng Triết Thuyết Việt Tộc nên chúng tôi không nói tới lịch sử cận đại cũng như lịch sử Việt Nam. Tức là từ sử nhà Đinh cho tới ngày hôm nay.
Tuy vậy, nhưng vì nhu-cầu minh-chứng cho sự Tự Hào dân tộc nên chúng tôi chỉ xin dẫn chứng một vài điểm trong giòng lịch sử Việt Nam hay nhân-loại mà thôi.

Ở thời điểm khai quốc, không dân tộc nào có lịch sử cả. Lý do là: Nhu-cầu chép sử chưa cần, ngôn từ còn thô-sơ, bút viết không có, giấy mực thì không, tàng trữ khó-khăn. Mặc dù vậy, nhưng chúng tôi nhất quyết không dùng những tài-liệu do kẻ thống-trị dân ta viết về lịch sử nước ta. Nghiã là chúng tôi không dùng tài-liệu của Tàu, của Tây hay của Việt-cộng. Không phải vì chúng tôi quá-khích, cực-đoan, bảo-thủ hay phủ nhận toàn bộ những tài-liệu đó.
Sở-dĩ không dùng là sợ thế nào cũng bị méo-mó. Không cực-đoan quá-khích thì cũng tự-ti mặc-cảm chứ không thể nào trung thực được.
Tại sao?
Theo quy-luật của tạo-hoá thì bổn-phận của kẻ thống-trị là làm sao cho người bị-trị dù có gặp thời-cơ cũng không thể thoát ra được. Biện pháp hữu-hiệu nhất là: Xoá bỏ văn-hoá của kẻ bị-trị và nhồi vào đó bằng văn-hoá nô-dịch mà mình muốn nhồi.
• Văn hóa là nếp sống thanh tao của con người. Trong văn-hóa có tư-duy và tư-tưởng.
• Tư-tưởng lãnh đạo hành động; do đó mặt trận Văn Hóa tối ư quan trọng.
Mỗi dân tộc có một nền văn-hóa riêng phù hợp với tâm tình và khả năng của mình. Đức thánh Trần đã nói: Giặc đến ào ào như vũ như bão, như lửa cháy chống đỡ dễ hơn là giặc đến từ-từ từ trong tâm đến ra.
Có nghiã là nô-lệ văn-hóa và tư-tưởng là nô lệ từ trong tâm nô-lệ ra; nô-lệ từ đời cha truyền đến đời con, rất khó cứu chữa.
Nói khác đi là hồn nước mất trước thì nước sẽ mất sau; đó là quy luật bất biến của vạn vật.

Vì thế nên: Việc đầu tiên phải làm của kẻ thống-trị đối với người bi-trị là xoá bỏ và phỉ-báng văn-hoá của kẻ bị trị. Đồng thời hủy diệt bút-tự và di-tích của người xưa để con cháu về sau không còn biết gì về tổ tiên của họ nữa; vì có đọc được bút tự của người xưa nữa đâu mà nói.
• Đồng thời ca-tụng văn-hoá nô-dịch và áp dụng chánh sánh ngu dân đặng còn sai cho dễ.
• Đây là phương tiện hữu-hiệu nhất để đào-tạo tôi trung.
Lịch sử Việt Nam đã chứng minh rành-rành đầy dẫy những điểm này. Nay tôi xin mạn phép được đơn cử 3 điểm để bên vực cho lập trường bình sử của chúng tôi.

Điểm thứ nhất:
Với chánh sách nô-dịch của Thực dân Pháp áp dụng trong 60 năm để chúng ta không những đã không biết gì về quốc sử mà còn biết sai là khác. Vì thế nên, ngày 10/8/1945, khi đầu hàng Đồng Minh người Nhật đã trao trọn vẹn lãnh thổ và chủ quyền cho ta vào ngày 16/8/1945 mà ta không giữ được. Thế có cay không???.
Lúc đó chúng ta đã có nhà vua là Hoàng Đế Bảo Đại, đã có chánh phủ là Nội-các Trần Trọng Kim. Đã có cơ-cấu xã-hội, lại được phe Đồng Minh đứng đầu là Mỹ cộng nhận sự độc lập mà Thượng Thư Phạm Quỳnh đã công bố 5 tháng trước đó, vào ngày 11/3/45.
• Đó là độc lập trời cho: Bất chiến tự nhiên thành.
Nhưng vì dân trí quá thấp kém, 95% mù chữ, chánh-trị gia non nớt, dân lơ-là coi việc nước như việc người khác. Do đó ta mất ngay vào tay Cộng-đảng Sô-Viết dưới mặt nạ Hồ Chí Minh, mà không hề hay biết chi cả.
• Lúc biết thì đã gông đeo cổ mất rồi, đất nước chia đôi với chinh chiến triền miên.
Nên nhớ lúc đó Hồ Chí Minh là một tên vô danh tiểu tốt không ai biết mặt biết tên của hắn cả.
• Đó là biệt danh để dấu tên thật của hắn đặng còn bịp dân cho dễ.
Đó là hậu quả tất nhiên phải có của chánh sách nô-dịch dưới thời Thực dân Pháp mà ra.

Điểm thứ hai:
Xin quý vị ghi nhớ điểm này, tối ư quan trọng chớ quên.
Đọc Việt sử, chúng ta thấy ghi công trạng của 2 ông Quan Thái Thú Tàu (Tức Quan Toàn Quyền dưới thời Thực dân Pháp, hay phủ Chúa dưới thời vua Lê) tên là Nhâm Diên thời Mã Viện và Sĩ Nhiếp (cuối nhà Đông Hán) đã có công:
Ra sức xóa bỏ phong tục tập quán và bút tự (tức xoá bỏ văn hóa dân Việt) rồi đem chữ Hán và âm lịch (tức lịch của dân du-mục chứ không phải của nông nghiệp) vào bắt dân ta phải hấp thụ. Đồng thời sáng tác chữ Nôm, tức viết tiếng Việt theo ký hiệu chữ Hán để người Tàu đọc cho dễ, đặng khi sang còn hiểu dân ta nói gì để dễ đàn áp. Ngược lại dân Việt phải học chữ Hán để còn thông dịch cho các quan Tàu, và biết văn hoá Tàu đặng còn biết đường ca-tụng.

Sau đó tự đề cao công-trạng của mình là đã khai hóa cho dân Việt biết lễ nghiã, cày cấy mà không hề nói tới Tà Tâm Ác Ý của các ông là biến Việt thành Tàu.
Khôi hài ở chỗ là nghề nông phát xuất từ vùng Hòa Bình, dân Hán sống thiên về săn bắn cưỡi ngựa; ấy thế mà dám nói dân Hán dạy dân Việt cách trồng trọt và cày cấy.

Buồn ở chỗ là ngày nay, các sử gia của chúng ta Sao Y Bản Chánh. Chỉ nói đến công trạng , chứ không hề nói tới tà tâm ác ý của 2 ông là tiêu diệt dân ta dưới bình phong Nhân Nghiã.
Nhờ chánh sách siêu đẳng của 2 ông này nên dân ta mới khốn đốn với người Tàu ròng-rã trên 1.000 năm.
Sau này, may nhờ tâm Việt và học thuyết Rồng Tiên (Triết Thuyết Việt Tộc) còn tồn tại trong huyết quản nên dân ta mới hoàn toàn thoát ra được. Kể từ thời Dương Diên Nghệ, Ngô Quyền rồi đến nhà Đinh sơn hà mới bắt đầu vững chắc trở lại (tức là đầu thế kỷ thứ mười).

Thay vì phân công định tội cho rõ-ràng thì không làm, mà chỉ vô tình đề cao công trạng lừa bịp mà thôi. Đây là cái nhầm tối ư quan trọng của những sử gia người Việt: Nối dáo cho giặc.
Đây cũng chính là cái nguy hiểm của sự nô dịch Văn Hoá, nô dịch Tư Tưởng. Đức Thánh Trần đã nhắn-nhủ, và chúng ta cần phải ghi nhận cho kỹ.
Đó là bửu-bối giúp ta thoát khỏi cảnh u-mê ám chướng do kẻ thống-trị tung ra. Nhất là hiện nay dân ta đang ngụp lặn trong cảnh trầm-luân, khổ ải; đang ăn phải bùa mê thuốc lú của giặc thù.

Điểm thứ ba:
Nói ngay thời điểm của chúng ta để phân định rõ-ràng công và tội của loại Nhâm Diên và Sĩ Nhiếp tân thời.
Chữ Quốc-Ngữ mà chúng ta đang dùng để truyền tin cho nhau rất tiện, rất lợi, rất văn minh…… là do các linh mục dòng Tên sáng chế ra trong thời Trịnh Nguyễn đánh nhau để chia đôi đất nước và chia đôi dân tộc. Mục đích của họ là dùng ký hiệu La-tinh để viết tiếng Việt cho người Tây Phương đọc cho dễ. Sau dùng làm phương tiện để truyền đạo Thiên Chúa trong dân gian.
Khi can thiệp vào nội tình của nước ta thì Đức Cha Bá Đa Lộc, người đã đem quân lực Tây Phương đến để giúp Nguyễn Ánh làm vua sau khi đánh tan quân lực Đại Việt dưới triều Tây Sơn, đã đề nghị với Mẫu quốc Phú-Lang-Sa đem chữ Quốc-Ngữ để thay thế chữ Hán và chữ Nôm với mục đích biến dân ta thành những kẻ côi cút vì không đọc được tư-tưởng người xưa qua bút tự lưu truyền nữa.

Vì nhớ ơn này nên khi lên ngôi vua, Gia Long đã cấm dân trong Nam phải kiêng chữ Cả; chỉ vì chữ này đã được dành cho Đức Cha Bá Đa Lộc rồi. Vì thế nên con đầu lòng, ở trong Nam, phải gọi là anh Hai, chị Hai chứ không phải anh Cả, chị Cả như xưa. Đến khi khuất núi thì Gia Long đã cho xây lăng để nhớ ơn. Đó là Lăng Cha Cả ở gần Tân Sơn Nhứt, Saigon.

Nên nhớ việc chính thức sử-dụng chữ Quốc-Ngữ làm chữ phụ (quốc tự phó) trong công văn và học đường là do nghị định ban hành từ PARIS xuống. Còn quốc tự chính là tiếng Pháp. Các công văn, tên đường và trong học đường từ lớn đến nhỏ đều viết bằng chữ Pháp. Chữ Việt được coi là mọi-rợ.
Trong học đường chỉ dạy những chữ cần thiết cho tới 11 tuổi thôi. Hồi đó gọi là Cours Moyen DEUX, chỉ có 1 giờ tiếng Việt trong 25 giờ học trong mỗi tuần mà thôi. Lên Cours Supérieure thì Thày trò nói với nhau toàn bằng tiếng Pháp giọng Việt, mà người khó tính gọi là sủa bằng tiếng Tây bồi (bồi bàn).

Đồng thời ra lệnh triệt hạ các trường dạy chữ Hán và chữ Nôm tại các làng xóm cho tới Quốc Tử Giám với lý do bảo vệ sức khoẻ cho trẻ em vì các trường ốc đó thiếu vệ sinh (sic!). Do đó chúng ta đã đả kích chữ Hán và chữ Nôm một cách hăng say đến độ tự hủy mà không hề hay biết.

Ngày nay, vì thói quen nên chúng ta gân cổ ca-tụng cái tiện, cái lợi của chữ Quốc-Ngữ mà quên phăng đi cái hại của nó. Cái hại to lớn nhất là mất Hồn dân tộc. Hồn nước mất trước thì nước sẽ từ-từ mất sau.
Thực vậy: Nay đọc các văn-kiện của Quang Trung Hoàng Đế như nhìn vào bức vách. Vậy thì làm sao chúng ta hiểu được tư-tưởng cao siêu của tổ tiên để lại đặng còn học hỏi kinh-nghiệm để sống cho ra con người Văn Lang?

Từ chỗ không hiểu này, cộng với tinh-thần vọng ngoại và tự kiêu…đi đến chỗ nhục mạ tổ tông không còn bao xa nữa. Chỉ vì chúng ta đã tiêm-nhiễm thói quen tự cho mình là trung tâm của vũ-trụ, cái gì không biết thì nói phăng là không có. Tìm hiểu, suy-luận nhức đầu.
• Đó là nguồn gốc của sự vong quốc ngày hôm nay.

Cách Bình Sử:
Triết lý của chuyện huyền thoại

Nói như vậy thì chúng tôi bình sử theo kiểu nào?
Thưa quý vị, ngày nay các khoa-học gia thường khai quật các di-chỉ người xưa để tìm hiểu nếp sống ở thời đó. Nay chúng tôi cũng xin phép được khai quật các di-sản của tổ tiên để lại để định rõ:
• Những khó khăn mà tổ tiên đã gặp phải.
• Những trở ngại mà tổ tiên đã vượt qua.
• Những thành quả mà tổ tiên đã đạt được.
• Những thất bại mà tổ tiên đã phải gánh chịu.
Hôm nay là ngày nói về thời điểm khai quốc, nên chúng tôi xin được lấy ngay di-sản về khai quốc ra để phân-tích từng điểm một cho thật rõ-ràng và minh-bạch.

Câu chuyện khai quốc:
Chúng ta, ai cũng biết câu chuyện khai quốc như sau:
Vua Đế Minh đi tuần thú phương Nam, gặp Tiên Nữ ở phiá Nam dãy núi Ngũ Lĩnh (tức Hồ Nam ngày hôm nay, nơi có hồ Động Đình) lấy làm vợ và sanh ra Lộc Tục.
Phong cho Lộc Tục làm vua ở phương Nam; còn Đế Nghi là anh cùng cha khác mẹ thì làm vua ở phương Bắc (lấy núi Ngũ Lĩnh và sông Dương Tử làm ranh giới).
• Lộc Tục chọn vương hiệu là Kinh Dương Vương, lấy Long Nữ ở hồ Động Đình, sinh ra Sùng Lãm.
• Sùng Lãm nối ngôi cha, lấy vương hiệu là Lạc Long.
• Lạc Long lấy Âu Cơ là dòng dõi tiên, đẻ ra 100 trứng, nở 100 con. Tạo ra 100 giống Việt (bách Việt); nhưng tất cả đều cùng chung một một lò Lạc Long tạo ra. Đó là giống Việt.

Tất cả gọi nhau là Đồng Bào. Lấy quốc hiệu là Văn Lang. Lấy màu vàng của tơ tầm làm sắc thái của dân Việt.
Giống Việt là giống của Lạc Long, con cháu Rồng Tiên; vì mẹ ông là Rồng và bà nội của ông là Tiên. Tức ông Lạc long là con của Rồng và cháu của Tiên.

Đó là tóm lược truyền thuyến khai quốc của dân Việt.
—————————————-

Giải mã huyền thoại:
Triết lý sống của dân Việt

Theo nhãn quan của chúng tôi thì câu chuyện này không những có rất nhiều ý nghiã, hữu tình, hữu lý mà còn là một triết thuyết rõ-rệt để dạy chúng ta cách xây dựng con người và tổ-chức xã-hội hợp với tâm tình và khả năng của dân ta nữa.

Câu chuyện này được chia làm 2 đoạn phân minh:

Đoạn thứ nhất: Khai Quốc
Từ Lộc Tục đến Lạc Long, trăm trứng trăm con: Đây là đoạn được thêm vào cho có đầu có đuôi để nói rõ lên 3 điểm chính là:

1)- Minh xác chủ quyền trên phương diện pháp lý: Nam quốc Sơn Hà Nam Đế Cư.
• Nay chúng ta gọi là tuyên xưng chánh nghiã trước khi khai chiến.
2)- Có lý luận theo đầu óc khoa học hẳn hoi.
• Biến hoá tuần tự theo quy luật của tạo hoá; chứ không phải tự nhiên trên trời rơi xuống, dưới đất chui lên. Thần thông biến hoá như các thuyết cùng thời.
3)- Nói lên nếp sống thời đó:
• Nam Nữ bình quyền, và bình luôn cả trách nhiệm cùng bổn phận đối với dân với nước.

Đoạn thứ hai: Giữ nước
Từ trăm trứng, trăm con đến 50 con theo mẹ (nữ tướng Âu Cơ) lên núi và 50 con theo cha (nam tướng Lạc Long) ra biển để:
• Cắm cờ giữ đất, bảo vệ giang sơn với tinh thần Tự-lực, Tự-cường và Tự-trọng.
Đây là lúc toàn thể dân Việt sửa soạn binh đội để chống xâm lăng, bảo vệ bờ cõi. Đây là hình ảnh Toàn Dân Kháng Chiến, Toàn Diện Đấu Tranh trong thế Liên Hoàn Tiếp Ứng (gọi bố về cứu) dưới thời lãnh vương Lạc Việt tên là Câu Tiễn, 600 năm trước Thiên chúa ra đời.

• Đây là triết thuyết Việt Tộc, nói lên 20 năm đấu tranh chống Ngô Phù Sai của Việt Vương Câu Tiễn; lãnh vưong vùng lạc Việt (nay là Quảng Đông).
• Đây là hình ảnh nước Văn Lang dưới thời loạn, nói lên quy luật đấu tranh để tự tồn.

Thuyết này dựa trên tâm tình và khả năng của dân tộc Việt. Sau khi phân tích, quý vị sẽ thấy bàng-bạc trong huyết quản của mình có ít nhiều đặc tính này mà ta gọi là bản sắc dân tộc. Chữ bản có nghiã là gốc, là rễ; còn sắc là màu sắc có nghiã là đặc tính.

Dù muốn dù không thì chúng ta cũng phải công nhận là: Thuyết này không những đã cho chúng ta niềm tự hào về dòng dõi Rồng Tiên, Lạc Hồng mà còn giúp cha ông chúng ta giữ vững được nền tự chủ trong suốt 18 Triếu đại Hùng Vương kéo dài 2.800 năm trước sức công phá liên miên của ngoại xâm; lúc đó là nước Ngô, một thế lực mạnh nhất vùng thời đó.
Không những vậy còn giúp hậu thế có tinh thần quật khởi và bất khuất trước sức mạnh của kẻ thù. Do đó mới có câu để đời là: Mối thù Ngô Việt với ngạn ngữ: Thằng Ngô con Đĩ, chỉ có hạng đĩ điếm mới lấy chồng người Ngô

Thật vậy: Những thời đại quật khởi để đòi tự chủ được thành công như các vĩ nhân Dương Diên Nghệ, Ngô Quyền, Bạch Đằng, Chi Lăng, Đống Đa đều là lúc dân Việt được trang-bị đầy đủ tư-tưởng bằng Học Thuyết Rồng Tiên.

Còn những thời nô-lệ đều là những thời dân trí suy-đồi. Lạc hồn dân Việt nên tâm tư bất an, tinh thần thác loạn; nhìn đâu cũng thấy cái dở cái hèn của dân tộc.
Sử Trần Trọng Kim là một điển hình. Cụ cho Triệu Đà là nguời Tàu nên khi dịch bản Bình Ngô Đại Cáo của Linh Hồn Kháng Chiến Lam Sơn thì cụ tự ý đổi ngay câu văn để con cháu cứ đinh ninh là Việt Sử bắt đầu từ nhà Đinh! Trong khi Quốc Sư Nguyễn Trãi nói Triệu Đà là người Việt.

Ngày nay, nếu muốn phục hồi vị thế dân Việt trong cộng đồng nhân loại thì chúng ta không có cách gì khác hơn là:
1/- Đem Tâm Việt vào con người Việt (tức gây ý trí đấu tranh).
2/- Đem văn hóa Việt vào con người Việt để tạo tinh thần kết hợp trong thế Hòa Đồng dân Việt.
3/- Trang bị tư-tưởng bằng các học thuyết tự vệ của dân Việt (tức gây tinh thần dấn thân cho sức
sống của dân tộc, trong đó có sự sống của chính ta).

Bây giờ muốn giải-thích câu chuyện trên với đầy đủ ý nghĩa của nó thì chúng ta phải thoả mãn 2 nhu cầu sau đây:

A/- Nhu cầu thứ nhất: Giải đáp 2 nguyên lý sau đây:
– Nguyên nhân nào đã đưa dân Việt đến chỗ khai quốc?
– Tại sao khi khai quốc lại bắt buộc phải có Triết Thuyết?

B/- Nhu cầu thứ hai: Tìm hiểu bối cảnh ở thời điểm khai quốc.
Phải đặt câu chuyện này vào bối cảnh lịch sử ở thời điểm 5.000 năm về trước thì mới thấy rõ được triết-lý khai quốc. Còn nếu ta đặt câu chuyện này vào bối cảnh lịch sử ngày hôm nay thì thế nào cũng đi đến kết luận: Chẳng hoang-đường không-tưởng thì cũng thần-kỳ quái-đản; người đẻ ra trứng. Hoặc tự ái dân tộc quá cao hay ái quốc cực-đoan, mù quáng…….mà không hề nghĩ rằng ta đã dựa trên sự hiểu biết mù-mờ của ta vê quá khứ để phê-phán vấn đề một cách quá hời hợt.
• Hay nói khác đi ta là quan toà thiếu phẩm chất và khả năng để phê phán người xưa.

Sau khi thoả mãn hai nhu cầu trên thì chúng ta sẽ thấy nổi bật lên 3 điểm chính sau đây:

1. Định rõ được niên kỷ khai quốc. Vào khoảng thời kỳ đồ đồng phát triển để có vũ khí. Từ niên kỷ khai quốc chúng ta mới thấy rõ biên giới, lãnh thổ (sông rộng, rừng sâu hiểm trở là biên giới thiên nhiên). Sau cùng đến chủng tộc, văn hoá và giáo lý để kết hợp lòng người..

2. Học thuyết Việt Tộc: Chuyện Rồng Tiên khai quốc bắt buộc phải là học thuyết dùng để bảo vệ sức sống của dân Việt; chứ không phải là câu chuyện bịa ra cho vui. Và được viết thành văn dưới thời Câu Tiễn; lãnh vương vùng Lạc Việt (Quảng Đông ngày nay). Vì trong bản văn có Hồ Động Đình và dãy núi Ngũ Lĩnh, nay vẫn còn. Chỉ có thời Câu Tiễn, sau khi sát nhập nước Ngô vào nước Văn Lang thì biên giới mới leo lên đến sông Dương Tử chảy ra Thượng Hải. Khi trước thì biên cưong là Tây Giang chảy ra Hongkong

3. Sự siêu việt của học thuyết Rồng Tiên. Đó là thuyết đối kháng với thuyết Thiên Tử của nước Ngô.
• Đừng nhầm học thuyết Thiên Tử của người Ngô (2.879BC) với học thuyết Thiên Mệnh của Khổng Tử (500BC)

Thiên Tử là thuyết Quân Chủ Chuyên Chế của kẻ xâm lăng. Còn Rồng Tiên là thuyết Dân Chủ Phân quyền của người tự-vệ, có thế đánh, thế đỡ hẳn-hoi.
——————

Muốn thoả mãn 2 nhu cầu trên, tôi xin đảo qua chu-trình tiến hoá của nhân loại để thấy rõ các thuyết đều nằm trong quy luật tiến hoá chung của vạn vật.

Chu trình tiến hóa của nhân loại:
Thoạt đầu, loài người vì da không có lông ấm nên phải ở xứ nóng,đó là Phi Châu. Đi xứ lạnh tì xưng phổi, chết.
Lúc đầu thì sống lẻ-tẻ để mưu sinh, vì chưa sản xuất được chi cả. Sau tinh khôn dần, biết cách dùng lửa nên đi xa được, sau đó ổn cư bằng nghề canh tác (tức nghề nông cách đây khoảng 15.000 năm).
Lúc đó có ruộng, có đất, có nhà, có của dự phòng khi đói phải coi giữ; do đó mới lập thành làng mạc thô sơ được gọi là Lý, là Bản, là Buôn, là Sóc hay chi chi đó Sau đó biến dần thành Vùng An Lạc, được gọi là Bộ Lạc, nay gọi là tiểu bang hay vùng.
Từ các vùng an lạc (bộ lạc) liên kết với nhau để thành Liên Bang mang tên là Việt (cầu tiến) trong nhu cầu chống quân Ngô, bảo vệ tự chủ.

Sự tổ chức xã hội cứ tăng trưởng không ngưng nghỉ là do lòng tham không đáy của con người. Do đó bộ óc phải tăng trưởng không ngưng nghỉ, rồi kéo theo nhu cầu vật chất mỗi lúc mỗi gia tăng không biết đâu là đủ. Đó là nguồn gốc của chém giết vô tận.

A/- Nhu cầu thứ nhất:

Nguyên lý 1:
Sự thành hình Quốc Gia cũng như các khối đều được thôi thúc bởi 2 nguyên nhân sau đây:
– Hoặc thành lập để đi xâm lăng.
– Hoặc thành lập để tự-vệ.

Ở kỷ nguyên của chúng ta, loài người có 2 khối xâm lược. Đó là lưỡng cực Nga và Mỹ. Lưỡng cực này đã chi phối cuộc sống của toàn thể nhân loại trong nhiều năm qua.

Vì muốn chống lại lưỡng cực Nga Mỹ, nhiều khối đã được thành lập nhưng thất bại vì thiếu Chủ Thuyết, vì thiếu Đứng Đắn hay thiếu yếu tố kết hợp nên đã chết non; như khối Ả-Rập Thống Nhất hay khối Phi Liên Kết của Ấn-Độ chẳng hạn.
Hiện nay có một khối đang thành hình và có triển vọng tốt, đó là khối Thị Trường Chung Âu Châu do Pháp và Đức chủ trương. Khối này được lập ra để tự vệ chống sự chi phối của lưỡng cực Nga Mỹ.

Tóm lại: Nguyên nhân đưa đến khai quốc chỉ có 2 thôi. Đó là hoặc xâm lăng, hoặc tự-vệ. Ngoài ra không còn nguyên nhân nào khác nữa.

Nguyên lý 2:
Tại sao khai quốc lại bắt buộc phải có triết thuyết?

Khi còn ở thời điểm Bộ Lạc, con người có đánh nhau thì chỉ là trả thù cá nhân chứ không có hậu ý tư lợi. Cho nên không cần có chủ thuyết để khích động lòng người.

Tới khi thành lập Quốc Gia thì phải có lãnh thổ, phải có dân tộc để bảo vệ chủ quyền của tập thể, mà nay ta gọi là quốc dân hay cộng đồng. Lúc này con người đánh nhau, tức dân tộc nọ đánh dân tộc kia là vì Tư Lợi chứ không phải vì hận thù cá-nhân nữa.
Muốn đánh hay muốn đỡ đều cần phải huy động tập thể, phải có tổ chức cỡ tầm vóc của Quốc Gia. Do đó phe đánh cũng như phe đỡ đều phải đẻ ra chủ thuyết (tức triết thuyết mà nay ta gọi là chủ nghĩa) để kéo lấy chính nghiã về phần mình. Không có triết thuyết thì nắm chắc phần thua.
• Vì hữu dũng vô mưu thì khỏe mấy cũng thua. Hùm thiêng khi đã xa cơ cũng hèn.

Triết thuyết là thuyết nói về cuộc sống của xã hội loài người. Nay phe Cộng Sản gọi là Chính Trị; còn phe Tư Bản thì gọi là Tâm Lý Chiến.
Phe nào cũng tìm cách đề cao chủ thuyết của mình, và cho là đi theo con đường đó thì mới đúng, mới có hạnh phúc.

Phe Cộng Sản dạy lính (người cầm súng) của họ rằng: Quân Sự mà không có Chính Trị là Quân Sự mù. Còn Chính trị mà không có Quân Sự là Chính Trị què.

Tổ tiên chúng ta đâu có lý luận như vậy mà sao cũng đuổi được quân xâm lược vừa hung dữ vừa hùng mạnh như quân Mông, quân Minh và quân Thanh. Phe Tư Bản thua Cộng Sản ở điểm này.

Nói cho đúng ra thì là: Con tốt Cộng Hoà Miền Nam thua con tốt Cộng Sản Miền Bắc là vì không biết khai thác chánh nghiã đã nắm trong tay. Chỉ biết cổ súy cho sự chống Cộng mà không biết đưa ra một chủ thuyết dân tộc để làm nản lòng quân lính Việt Cộng.
• Tại sao? Chỉ vì không biết tường tận về Việt sử.
Từ cổ chí kim, danh từ có thay đổi; nhưng hành động không thể ra khỏi quy luật của tạo hoá được.
Triết thuyết của kẻ xâm lăng, quanh đi quẩn lại cũng chỉ chạy quanh trong vấn đề: Tự cho mình có bổn phận phải đi khai phóng cho người. Rồi từ cái bổn phận tự cho này, chiếu nhiệm vụ thi hành: Mộ quân đi chinh phạt những kẻ bướng đầu không chịu nghe mình; tức là không chịu làm tôi tớ cho ta.

Thuyết xâm lăng:

Thuyết xâm lược của thời xưa là thuyết Thiên Tử. Ta là con của Trời sai xuống để khai phóng cho nhân loại; vì thế nên ta có quyền dùng binh lực để trấn áp những kẻ man di, hay hung hãn.

Ngày nay thuyết xâm lăng của Cộng Sản là tự cho mình có bổn phận phải đem “Đỉnh cao trí tuệ” của loài Cộng Sản đi giải phóng cho nhân loại. Trên thực tế thì chỉ phỉnh gạt được các dân tộc nô-lệ mà thôi. Vì đã bị nhốt tù trong chính sách ngu dân của kẻ thống trị cho nên bị gạt mà không hay biết chi cả.
Còn thuyết xâm lược của người Mỹ là: “Bảo vệ sự Tự Do” cho nhân loại. Nhưng sao họ lại trốn tránh trách nhiệm ở Việt Nam mà họ luôn luôn đề cao là “Tiền đồn” chống Cộng? Sao họ không bảo vệ sự Tự Do cho chúng ta? Ngay cả khi vượt biên sao họ không cứu vớt mà lại đặt chỉ tiêu thu nhận thuyền nhân?
• Xét cho cùng thì thuyết xâm lược uyển chuyển theo thời đại; miễn sao xúi trẻ ăn cứt gà mà nó chịu là được.

Về phần chúng ta, thì ta nên suy nghĩ cho kỹ điểm này. Vì hiện nay dân ta đang là nạn nhân. Đang chịu cuộc sống lầm than khổ ải. Đang ngụp lặn trong bùa mê thuốc lú của kẻ thù.
• Xét cho cùng thì cũng tại sự u-tối trong đầu mà ra.

Thuyết Tự Vệ:

Còn thuyết của người tự vệ thì chung quy cũng chỉ là:
Ta có quyền sống theo ý của ta trên mảnh đất của tổ tiên ta để lại.
Tức là Ta có quyền sống theo văn hoá mà ta mong muốn trên đất của ta.

Đối với chủng tộc Việt (bách Việt) thì đây là thuyết Rồng Tiên Khai Quốc. Còn Cộng Đồng chung Âu Châu được thành lập với lý do tuy nêu ra có khác; nhưng xét cho cùng thì cũng cùng một tư-tưởng là: Tự Vệ chống lưỡng cực Nga Mỹ.

Còn khối Ả Rập Thống Nhất của ông NASSER, chưa lập đã tan chỉ vì có hậu ý chứ không có thực tâm. Hơn nữa cũng chẳng có lý tưởng đàng hoàng.

Vậy thì câu chuyện Rồng Tiên phải là một học thuyết đấu tranh để tự tồn mà chúng tôi xin tạm gọi là: Triết Thuyết Việt Tộc

Đây là căn bản của khoa Nhân Văn Việt Tộc, tức học để trở thành người Việt tốt.

Tới đây thì nhu cầu thứ nhất đã giải quyết xong. Nay bước sang nhu cầu thứ hai.

B/- Nhu cầu thứ hai:

Nhu cầu thứ hai là phải đặt câu chuyện Rồng Tiên vào bối cảnh lịch sử của nó. Tức vào lúc dân Lạc Việt như cá nằm chốc thớt dưới thời vua nước Ngô tên là Phù Sai (600 năm trước Thiên Chúa ra đời). Biên giới nước Ngô lúc đó được bao bọc bằng sông Dương Tử chảy ra Thượng Hải, và Tây Giang chảy ra Hongkong.
• Sông Dương Tử còn gọi là Trường Giang; còn Tây Giang gọi là Đại Giang

Muốn hiểu rõ thông điệp ký thác trong câu chuyện này thì chúng ta phải hiểu rõ thuyết Thiên Tử của kẻ xâm lăng thì mới thấy rõ tính chất đối kháng của thuyết Rồng Tiên. Và đồng thời cũng thấy bộ óc siêu việt của tổ tiên chúng ta thời đó.

Thuyết Thiên Tử:
Theo trí tưởng tượng thời đó thì trời tròn, đất vuông. Trời che đất chở. Trên bàu trời thì có Thiên Đình là nơi họp việc của các thiên thần và ông trời. Ông trời chỉ ló ra có mỗi cái mặt để quan sát mọi việc dưới trần gian. Do đó ta gọi là Mặt Trời (le Soleil). Đi hết đất thì tới biển cả mênh mông.
Hết biển thì đến chân trời. Từ chân trời có thể leo lên bàu trời và ngao du thiên đình được.

Do đó dân Tàu tự cho họ là con của trời sai xuống để dẫn dắt muôn dân (loài người) ra khỏi cảnh thú vật không có văn hoá; hoặc văn hóa còn thô sơ nên tâm tính hung hãn hay ngu si.
Vì có tư tưởng xâm lăng như thế nên họ mới sáng tạo ra thuyết Thiên Tử. Hoàng Đế cai trị muôn dân nên lấy màu đỏ của mặt trời làm màu sắc của Triều Đình lãnh đạo. Cờ hiệu thì hình vuông, tượng trưng cho lãnh thổ (trời tròn đất vuông) với nền màu đỏ. Có nghiã nườc Tàu là của Hoàng Đế để nói lên uy quyền tối thượng của Triều Đình. Tức chế độ Quân Chủ Chuyên Chế.
• Đối với Bắc Kinh thì mặt trời ở phương Nam. Do đó bàn thờ phải quay về phuơng Nam nên có ông Xướng và Tây Xướng.
• Còn người Việt thì quay theo hướng nào tiện nghi thì làm, do đó có Tả Xướng và Hữu Xướng, tức 2 quan viên lo việc xưóng tế.
• Nghi thức Tế Lễ là của dân Nông Nghiệp sống cạnh mổ mà nguời thân qua đời. Còn dân du-mục thì vì di chuyển thường xuyên nên không có mồ mả để viếng thăm, nói chi đếnTế Lễ.

Ngày nay Việt Cộng cũng làm y chang. Lấy đảng kỳ của chúng làm Quốc Kỳ; tức đảng Việt Cộng đẻ ra dân tộc Việt Nam. Nền đỏ của Việt Cộng khác với nền màu đỏ của Tàu. Màu đỏ của Tàu là màu lửa của mặt trời, còn màu đỏ của Việt Cộng là màu đỏ của máu người. Chúng chủ trương lấy máu nhuộm cờ, và máu càng đổ nhiều bao nhiêu thì cách mạng vô sản càng có giá trị nhiều bấy nhiêu. Vì thế nên trong bài đảng ca ta mới thấy vang rền sát khí đằng đằng:…Thề phanh thây uống máu quân thù….. Quân thù ở đây không phải là ngoại chủng, mà là đồng chủng nhưng khác giai cấp!!!

Nước Hoàng Đế ngự trị được gọi là nước Trung Hoa, tức trung tâm tinh hoa của vũ trụ. Nay gọi là Trung Quốc, tức cái rốn của vũ trụ. Từ đây mới phát đi ánh sáng văn minh để khai phóng cho toàn thể loài người. Toàn thể loài người thì được họ gọi là trăm họ. Theo thuyết này thì toàn thể nhân loại đều là con dân của Thiên Tử; không miễn trừ bất cứ một ai.

Ngoài dân Trung Quốc ra thì tất cả đều là: Rợ phương Bắc (rợ Hồ là Mông Cổ, rợ Kim là Mãn Thanh); Quỷ phương Tây là Nước Sở, là Tân Cuơng và Tây Tạng và Man Di phương Nam là Ngô và Việt. Bây giờ vùng này được gọi là Hoa Nam, còn Trung Hoa là vùngđất nhà Chu khi truớc (tức quanh vùng trung lưu và hạ lưu sông Hoàng Hà).
Những danh từ này khi trước chỉ tuyền khẩu trong dân gian bên Tàu; nhưng chánh thức được công khai tuyên bố dưới thời Lã Hậu (vợ của Lưu Bang) vào năm 183 trước Tây Lịch. Và sau đó đã in sâu vào tiềm thức dân Hán cho tới ngày hôm nay. Đó là các danh xưng trịch thượng của kẻ chỉ biết có bạo lực mà thôi.

Sở dĩ họ gọi phương Nam là Di (tức mán, mọi) là vì dân Việt thuộc loại hiếu hòa và hiếu sinh chứ không hung hãn hiếu chiến, hiếu sát như dân Mông Cổ, Mãn Thanh hay dân ở phía tây. Sau này khi tiếp cận với người Âu Châu thì họ cho luôn hỗn danh là Bạch Quỷ (Tây Trắng) hay Hắc Quỷ (Tây Đen).
Nên nhớ lúc đó (600 năm trước Thiên Chúa ra đời) thì họ chưa biết tới người da trắng; mới đầu họ gọi là Bạch Tạng. Mãi sau này họ mới gọi là Bạch Quỷ. Cái đó chứng tỏ tinh thần thượng tôn của dân Hán quá cao và trở thành kiêu ngạo.

Sau này dân ta nổi dạy đòi tự trị thì lúc đó họ cho cái hỗn danh là An Nam đô hộ phủ. An là an phận thấp hèn, còn Nam là phương Nam; có nghiã là hãy an phận tôi đòi ở phương Nam đi, đừng có láo lếu như nhị vị Anh Thư mà toi mạng. Chúng ta đừng vì tự ái mà giải nghiã khác đi trái với những gì người Hán nghĩ trong đầu của họ.

Còn dân gian bên tàu thì họ quen miệng gọi ta là – Nàm Nhần, hay Nam Man, Nam Di. Có nghiã là dân phương Nam là Mán-xá, Mọi-rợ; chỉ vì ở xa Thiên Tử nên chưa hấp thụ được Văn Minh Trung Quốc. Buồn thay là dân ta ngày nay còn nhiều người ngưỡng vọng Trung Quốc, tôn kẻ thù của dân tộc làm Thày mà không biết nhục!!!.
• Còn Tàu là danh từ của Triệu Đà đặt cho người Trung Hoa. Đây là danh từ đối kháng chánh trị, chữ Tàu có nghĩa là thằng Ngố, vợ thằng Ngố là con Lòa (tức Mụ Xẩm)

Sau này, dưới thời nô lệ Thực Dân Pháp (1862-1945) thì họ gọi nước ta là nước Tây Cống. Saigon được gọi là tỉnh Tây Cống.
Có nghiã là đất của Thiên Tử, nay gặp Bạch Quỷ đến quấy phá, thôi thì cống cho nó một mảnh đất để Thiên Tử và Trung Quốc được an thân. Chữ cống có nghiã là biếu (cadeau) chứ không có nghiã là phục tùng.

Đó là triết thuyết của kẻ xâm lược, tự cho là mình hơn người. Vì thế học thuyết Khổng Tử mới có câu: Tu thân, Tề gia, Trị quốc và Bình Thiên Hạ. Rõ ràng là tư tưởng của kẻ xâm lăng gây loạn xã hội. Đi Bình người ta thì tất sẽ có chiến tranh đòi độc lập.Tạo sao anh đi Bình tôi mà không phải là tôi đi bình anh?
• Mà có ai cần họ đi làm “đầy tớ không công” để khai phóng cho người khác đâu?
• Vì thế nên trong bài Bình Ngô Đại Cáo, Quốc Sư Nguyễn Trãi mới nói ngay trong câu đầu là: Người Việt chúng tôi chủ trương lấy hạnh phúc của dân làm căn bản nên chúng tôi không khiến các anh khai phóng: VIỆC NHÂN NGHĨA CỐT Ở YÊN DÂN

Sức đề kháng của dân Việt:
Khi thuyết Thiên Tử đã an vị, quân ngũ đàng hoàng thì nó kéo sang xâm-lăng mình. Vì không chấp nhận nên người Việt mới tổ chức binh đội để đối kháng, để bảo vệ sự tự chủ của mình.
Trước hết là mình không bao giờ chấp nhận danh từ miệt thị nó đặt cho mình, và mình cũng không chấp nhận luôn danh xưng mà nó tự đặt cho nó. Chả bao giờ tổ tiên ta gọi chúng là Trung Hoa hay Trung Quốc chứ đừng nói đến danh xưng quỵ lụy của Việt Cộng: một điều Trung Quốc vĩ đại, hai điều Trung Quốc đàn anh.
• Coi bài Bình Ngô Đại Cáo thì thấy những nhận xét trên là đúng.
Tổ tiên ta gọi nó là thằng Tàu, hay thằng Ngô. Có nghiã là những thằng Ngố đi làm loạn thiên hạ. Danh xưng này đã in sâu vào trong đầu dân Việt với câu: Ngây ngô như Chúa Tàu nghe kèn, hoặc thằng Ngô con Đĩ, hay mụ Xẩm.

Chúa Tàu là vua Tàu. Vua Tàu còn ngây ngô khi nghe nhạc nước Việt thì người dân Tàu làm sao khôn được?
Gái Việt lấy chồng người Ngô thì được gọi là đĩ; vì chỉ có hạng đĩ điếm mới lấy kẻ thù của dân tộc. Có khoàng 600 năm BC.
Hoặc hoài con mà gả cho loài trắng răng có từ thời Mã Viện ác ôn bắt phài nói tiếng Tàu, mặc y phục Tàu nên bà con mới rù nhau nhuộm răng đen để phân biệt Ta và Thù. Có từ thời Mã Viện (43 AC)

Còn gái Tàu thì gọi là con xẩm, mụ xẩm. Xẩm có nghiã là lòa, nhìn không rõ. Trời xâm xẩm tối, hay hát xẩm là hát để xin tiền lúc trời nhá nhem, mọi người ngưng việc. Hay mặt mày xây xẩm…..Vợ thằng ngố là con lòa, thật là xứng đôi vừa lứa.

Ngược lại tổ tiên ta tự đặt cho mình những danh xưng oai hùng, đẹp đẽ, cao thượng và đầy đủ ý nghiã như: Rồng Tiên, Văn Lang, Đồng Bào, Việt……. Ngoài ra còn lấy màu vàng của tơ tầm làm sắc thái của dân Văn Lang là dân tộc có đặc tính Hào-hoa, Phong-nhã, Phóng-khoáng và Hào-hiệp, Lịch-sự, Bặt-thiệp.
Màu vàng của tơ tầm đã gói-ghém trọn vẹn học thuyết Rồng Tiên theo chế độ Dân Chủ Phân Quyền để đối kháng với màu đỏ của Thiên Tử.

Nên nhớ là các danh xưng có tính cách gây hấn này đã chính thức được sử dụng công khai trên các văn kiện giấy tờ bắt đầu từ năm 183 trước Tây Lịch. Trước đó dưới thời nhà Tần trở về trước chỉ có xầm xì trong dân gian mà thôi. Vì Tần Thủy Hoàng còn bồ tèo với Thục An Dương Vương. Và Hán Cao Tổ còn xin hiệp thương với Triệu Đà, nên trong công văn còn kiêng nể nhau. Nhưng đến Lã Hậu thì hết sự tương kính này.

Thuyết Rồng Tiên

Tới đây thì các yếu tố cần thiết đã được giải tỏa, bây giờ tôi xin giải-thích câu chuyện Rồng Tiên khai quốc để nói lên:
– Quy luật đấu tranh để tự tồn.
– Nguyên tắc căn bản của sự tổ chức xã hội Việt.

Đoạn 1:
Từ vua Đế Minh cho đến Lạc Long Quân đã nói rõ lên 3 điểm : Pháp-lý, Khoa-học và Sinh hoạt xã hội ở thời điểm đó.

1)- Pháp-lý:
Chữ Đế Minh có nghiã là ông trời. Đế có nghiã là Nền là Móng (tiếng Pháp gọi là La BASE). Minh là sáng. Ông Đế Minh là người sáng tạo ra trái đất. Trái đất là tài sản của ông, vì do chính ông tạo ra.
Nay ông có 2 người con, một người là Đế Nghi và một người là Lộc Tục. Ông chia gia tài làm 2. Phía bắc sông Dương Tử (tức Hồ Bắc, bên kia dãy núi Ngũ Lĩnh) là lãnh địa của Đế Nghi. Còn phía Nam sông Dương Tử (tức Hồ Nam này nay) là lãnh địa của Lộc Tục.

Mẹ Lộc Tục là Tiên ở phía Nam dãy núi Ngũ Lĩnh, và vợ của Lộc Tục là Long Nữ ở hồ Động Đình. Phía Nam sông Dương Tử là lãnh địa của mẹ và của vợ ông Kinh Dương Vương (Lộc Tục), là nơi chôn nhau cắt rốn của Tiên nữ và Long nữ. Do đó phía Nam sông Dương Tử là của dân Việt. Do đó sau này mới có câu Bắc Hán Nam Việt dưới thời Triệu Đà là thế (207 năm trước Thiên Chúa ra đời). Lộc là chồi là nhụy, Tục là dương thế. Vậy Lộc Tục có nghĩa là cha đẻ ra nhân loại. Đây là ý muốn của ông ĐẾ Minh muốn con mình sinh ra muôn loài.
• Gia tài đã chia, anh phía Bắc, tôi phía Nam. Phần ai nấy hưởng. Tôi không đánh anh, mà anh cũng chẳng có quyền xâm lăng đất của tôi. Anh có xin một hạt thóc tôi cũng chẳng cho.
Đó là Tuyên xưng chánh nghiã

Rõ ràng trên pháp lý là Nam quốc sơn hà Nam Đế Cư.
Công khai minh xác chủ quyền của mình ở phía Nam sông Dương Tử. Đồng thời cũng xác định luôn lập trường đấu tranh dứt khoát với các sắc dân phương Bắc:
• Dân Việt tuy hiếu hoà, hiếu sinh chứ không hiếu chiến, hiếu sát như dân phương Bắc; nhưng quyết không lùi bước trước gian nguy. Anh đánh tôi thì tôi tự-vệ, chứ không truy kích sang đất của anh. Đây là tinh thần tự trọng, ý nghĩa của chữ Văn Lang.
• Ngày nay chúng ta gọi là Tuyên xưng chánh nghiã trước khi tổng động viên để ứng chiến.

2)- Khoa học:
Khác hẳn với thuyết Thiên tử từ trên trời rớt xuống, từ dưới đất chui lên. Câu chuyện có chuyển tiếp, có sự lai giống hẳn-hoi.

Lộc Tục lấy niên hiệu là Kinh Dương Vương. Mẹ ông Lộc Tục là cô Tiên (Tiên nữ) nên trong huyết quản có 50% giòng máu tiên. Ông Lộc Tục lấy vợ là Rồng (Long nữ) ở hồ Động Đình, sinh ra ông Sùng Lãm.
Ông Sùng Lãm lấy vương hiệu là Lạc Long Quân với ngụ ý là: vua Rồng đem sự an lạc đến cho dân tộc Việt, con cháu của chính ông. Lạc là yên vui, an lạc. Còn Long là Rồng và Quân là vua.
Mẹ ông Lạc Long là Rồng, bà nội ông Lạc Long là Tiên, do đó ông Lạc Long đã hấp thụ được cả 2 đặc tính của Rồng và Tiên. Nghĩa là ông ta Trí Dũng vẹn toàn, hay văn võ toàn tài.

Đây có đúng là một sự lai giống theo khoa học không? Vậy thì chúng ta không thể phủ nhận đầu óc khoa học của tổ tiên ta được.

Kinh Dương Vương là là vương hiệu do chính mình đặt ra để nói rằng Ta là Vua lớn nhất trong trần gian này. Kinh là lớn nhất, to nhất, nhiều nhất. Dương là trần thế của muôn loài. Vương là vua

Sùng Lãm là ông Kinh Dương Vương đặt cho con để nói lên ý nguyện của mình là con tôi vẹn toàn cả tài lẫn sắc ai trông thấy cũng kính nế và quý mến. Sùng là kính cẩn, quý mến; còn Lãm là nhìn.

Vì trí dũng vẹn toàn nên ông Lạc Long mới lấy bà Âu Cơ dòng dõi tiên cho tương xứng Rồng Tiên song hiệp. Có nghiã là Nam Nữ bổ xung cho nhau (song hiệp) để sống cho mình và cho người; chứ không có tình yêu vị kỷ như Tàu là Long Phụng giao duyên.

Theo thiển kiến của chúng tôi thì chữ Con Rồng Cháu Tiên là chỉ ông Lạc Long Quân là con của mẹ Rồng và là cháu của bà Tiên, chứ không phải là chỉ chúng ta thuộc dòng Rồng Tiên đâu. Nếu là chúng ta thì tại sao không ai nói là Con Tiên Cháu Rồng cả? Chúng ta chỉ thấy nói là chúng mình thuộc dòng dõi nhà nòi: Lạc Long, hay giòng giống Lạc Hồng mà thôi.

3)- Sinh hoạt xã hội:

a/- Huyết thống:
Ông Sùng Lãm chọn vương hiệu là Long; điều này chứng tỏ dân Việt theo Mẫu hệ, tức huyết thống theo giòng mẹ. Vì vậy ta mới có câu Cha sinh Mẹ dưỡng, hay con hư tại mẹ, cháu hư tại bà để nói lên vai trò quan trọng của người đàn bà trong xã hội Việt.

• Mẫu Hệ kiểu này không giống mẫu hệ ngày nay như chúng ta nghĩ đâu. Mẫu hệ ngày hôm nay là theo quan niệm của Phụ Hệ mà ra.
• Chúng ta chê nhà Trần loạn luân vì con chú, con bác lấy nhau. Đó là chúng ta theo quan niệm Phụ Hệ của Tàu là đôi con dì lấy nhau được vì khác họ. Nhưng theo Mẫu Hệ thì đôi con chú, con bác lấy nhau được. Còn theo y học thì dù Mẫu Hệ hay Phụ Hệ thì trong 5 đời lấy nhau không tốt, dễ sinh quái thai. Mẫu Hệ hay Phụ Hệ là theo quan niệm về Luân Lý do chính con nguời đặt ra; chứ lúc khởi thủy thì làm gì có tục này.

Dân Việt có theo mẫu hệ thì cũng là chuyện bình thường. Vì đàn bà Việt đảm-đang tay hòm chìa khóa, mẹ chồng dạy nàng dâu quán-xuyến gia tài để còn gánh vác giang sơn nhà chồng.
Khác hẳn với người đàn bà Tàu ít tài nên mới chấp nhận thân phận tỳ thiếp, tam tòng người đàn ông, dù đó là con của mình. Có đúng xã hội Tàu trọng Nam khinh Nữ không? Bất công xã hội!!!.

Trong khi đó xã hội Việt thì Nam Nữ bình quyền, thuận vợ thuận chồng tát bể Đông cũng cạn.
Theo đạo sống của dân Việt, mà ta gọi là Việt Đạo thì người con theo huyết thống và đặc tính di truyền của dòng Mẹ. Còn tài năng đua chen với đời thì do Cha huấn luyện. Do đó ông Lộc Tục mới truyền ngôi cho ông Sùng Lãm. Ông Sùng Lãm là con một của ông Lộc Tục nên chúng ta không thể nói là tại sao không truyền ngôi cho con gái được.

Quan niệm Nam Nữ bình quyền này còn được bổ xung bằng hình ảnh trăm trứng trăm con mà không nói rõ là trai hay gái, chỉ nói có chữ con thôi. Vì trai hay gái đều là con cả; cùng chung quyền lợi, cùng có bổn phận giúp nước cứu đời như nhau. Vì thế nên mới có chữ song hiệp, có nghiã là âm dương kết hợp, bổ xung cho nhau cho trọn vẹn tài năng và đức độ. Phải có cả trai lẫn gái thì mới quân bình được. Tức âm dương hoà hợp thì mới nảy sinh ra sự sống được. Đó là ý niệm về Kinh Dịch lúc sơ khai. Ngày hôm nay khoa học đã chứng minh là lý luận theo Kinh Dịch của người xưa là thiếu căn cứ. Kinh là nguyên lý thiên nhiên lúc nào cũng đúng cả. Còn Dịch là thay đổi. Kinh Dịch là lý luận về sự biến hóa vạn vật.
Quan niệm bình đẳng, bình quyền còn là hình ảnh các vòng tròn đồng tâm trên mặt trống đồng Đông Sơn. Các điểm trên vòng tròn đều cách tâm một độ dài bằng nhau. Hay bà Âu Cơ và ông Lạc Long mỗi người đều lãnh 50 binh đoàn để ra phòng vệ biên cương. Như chuyện Lãnh Vương vùng Lạc Việt tên là Câu Tiễn đi tù bên nước Ngô thì bà vợ đòi theo chồng đi tù để chứng tỏ vợ chồng liên đới chịu trách nhiệm với dân với nước, mặc dù chỉ có ông chồng làm nhầm.

b/- Nghề nghiệp.
Hồi đó chỉ có 2 nghề được ưa chuộng là săn bắn và chài lưới, mặc dù dân ta sống tho nông nghiệp.
• Nghề săn ở trên núi cao chót vót và hùng vỹ, cần có mưu lược, khôn ngoan. Đó là TRÍ.
• Nghề chài lưới thì ở vùng biển cả bao la bát ngát. Cần bơi lội nhanh nhẹn, thân thể cường tráng, đẹp đẽ. Đó là DŨNG.

Tiên thì ở trên miền núi, còn Rồng thì ở ngoài biển. Do đó tổ tiên ta cho pha giống Tiên và Rồng là 2 giống tinh anh và làm chủ trái đất này. Đồng thời cũng cho Tiên và Rồng toàn những đức tính tốt, trung hậu và nhân đức.
• Tiên và Rồng không làm hại ai cả, mà chỉ giúp ích cho đời thôi.

Tóm lại:
Đoạn này cho chúng ta thấy rõ đặc tính của dân tộc Việt là Trí Dũng vẹn toàn. Hai tinh anh này đã được đúc kết trong con người ông Lạc Long, thủy tổ của bách Việt. Tức là thủy tổ của dân tộc ta vậy.

• Đoạn này tuy được đặt ra cho có đầu có đuôi, nhưng nó phản ảnh của xã hội Văn Lang và tâm tình của dân Việt ở thời điểm đó.

Đoạn 2: Học Thuyết Rồng Tiên:
Bắt đầu từ điểm này mới đẻ ra Triết Thuyết Việt Tộc để ngăn chặn giặc thù, bảo vệ giang sơn. Đây là những quy luật cần phải theo để: Dựng nước. Giữ nước. Xây dựng con người. Xây dựng xã hội phù hợp với tâm tình và khả năng của dân Việt. Ngoài ra còn nói rõ quy luật đấu tranh Tự Vệ và phương thức thoát vòng nô-lệ. Tức trường hợp vô cảm, thờ-ơ và ích kỷ của thế hệ ngày hôm nay.

Để sự phân tích cho được rõ-ràng, chúng tôi xin chia ra làm 3 mục: Đối nội. Đối ngoại và Y học về chuyện người đẻ ra trứng.

A/-Đối nội gồm:
1)- Quy luật về sự sống.
2)- Nguyên tắc tổ chức xã hội.
3)- Phong thái người Việt
4)- Sắc thái dân Việt

B/- Đối ngoại:
Đối kháng của thuyết Rồng Tiên với thuyết Thiên Tử.

C/- Y Học:
Người đẻ ra trứng?!
————————

Đoạn 2:
Từ chuyện Lạc Long cùng Âu Cơ đẻ ra 100 trứng, nở ra 100 con, tạo thành 100 giống:
• Đó là bách Việt, gọi nhau bằng Đồng Bào.
• Lấy quốc hiệu là Văn Lang.
• Chọn màu vàng của tơ tầm kén tầm làm sắc thái dân tộc

cho đến đoạn 50 con theo mẹ lên núi, và 50 con theo cha xuống biển là tất cả một tri&êt lý để:
– Dựng nước, giữ nước, đối nội, đối ngoại với đầy đủ tình tự dân tộc.
– Nói lên ý nghiã của cuộc sống cùng với tình tự dân tộc.
– Đây là thuyết của người tự vệ, có thế đánh thế đỡ một cách liên hoàn chặt chẽ để chống với thuyết xâm lăng Thiên Tử của Ngô Phù Sai.
– Thuyết Rồng Tiên hoàn toàn dựa trên tâm tình của dân Việt, lý luận theo khoa học, hợp với sự biến hoá của vạn vật.

Muốn cho dễ hiểu thì chúng ta chuyển câu chuyện này thành bức họa,.
• 100 người con là 100 binh đội đóng chốt trải dài trên đường biên giới.
• Biên giới phía bắc là núi Tần Lĩnh, trong có núi Ngũ Lĩnh. Núi này ở nay sông Dương Tử mà địa danh này vẫn còn cho tới ngày hôm nay.
• Biên giới phía đông là biển cả bao la.
• Biên giới phía tây là sông Cửu Long, tiếp giáp với nước Sở thì bỏ ngỏ vì bình yên.
• Biên giới phía nam là đèo Ải Vân (nay gọi là Hải Vân), tiếp giáp với núi rừng hoang vu không cần canh giữ. Lúc này người Chàm chưa lập quốc, và cũng chưa hội nhập vào nước Văn Lang.

Rõ ràng là chống quân xâm lược từ phương Bắc nên đóng chốt tự vệ để cản đường kẻ thù (lúc này là nhà Đông Chu đang hỗn loạn.
Nhìn bức họa thì chúng ta thấy ngay là cuộc chiến tư-vệ với châm ngôn:
• Toàn dân kháng chiến, toàn diện đấu tranh tronh thế liên hoàn tiếp ứng; vì bố căn dặn là chống đỡ không nổi thì gọi Bố ơi về cứu chúng con (mặc dù đây là ẩn dụ).

5.000 năm về trước, con người còn tin vào thần quyền vì có nhiều hiện tượng không thể giải thích được. Dựa vào tâm lý thần linh này, kẻ mưu đồ xâm lăng mới tung ra thuyết Thiên Tử để sai khiến người khác chết cho danh lợi của mình được dễ dàng.
Thuyết Thiên Tử là một thuyết màu-mè, viển-vông; huyênh-hoang dối trá. Nó chỉ phù hợp với dân Ngô mà thôi. Vì ngố nên cần phải có một người chủ. Đó là ông Thiên Tử….Về sau Khổng Tử (550BC) tô son chét phấn để biến thành Thuyết Thiên Mệnh

Còn triết thuyết Việt Tộc là một thuyết thực tiễn. Cũng có thần quyền, cũng có uy vũ. Nhưng đó là uy vũ thực tiễn của các sinh vật chúa tể muôn loài ở trên mặt trái đất này: Rồng và Tiên.
• Không những vậy lại còn có lập luận khoa học, dựa theo sự biến hoá tuần tự của vạn vật; không có vấn đề đốt giai đoạn như sự bịp bợm của Việt Cộng: Dục tốc bất thành…nhanh nhẩu đoảng, sôi hỏng bỏng không.

Bây giờ tôi xin phân tích từng điểm một:

A/- Đối nội:

1)-Quy luật về cuộc sống:
Đây là quy luật của tạo hóa mà tổ tiên chúng ta đã nhìn ra. Tổ tiên ta quan niệm rằng: Cha mẹ sinh con, trời sinh tính. Trăm trứng, trăm con; mỗi con một đặc tánh riêng biệt nên tạo ra trăm giống. Đó là bách Việt, một trăm giống Việt.

Tuy 100 giống đó, nhưng tất cả lại cùng chung một giống thuần nhất: Đó là giống Việt, con cháu Lạc Long và Âu Cơ; vì lý do cùng chung một cha một mẹ mà chúng ta gọi là con nhà Nòi; có những đặc tính chung sau đây:
a/- Cầu-tiến.
b/- Tự-lực và Tự-cường.
c/- Tự-trọng

a/- Tinh thần Cầu Tiến: (Việt)
Chữ Việt có nghiã là vượt qua mọi trở ngại để thăng tiến cùng người. Tức là phải hun tài đúc trí để chỉ có tiến chứ không lùi. Đứng tức là lùi, mà lùi tức là tụt hậu rồi đi đến tiêu vong..

Chữ Việt nói lên tinh thần Cầu-tiến. luôn luôn trau dồi đức dục, trí dục và thể dục để tiến ít nhất là bằng người. Ngày nay ta gọi là bắt kịp đà tiến hoá của nhân loại.
• Tức song song đồng tiến với người, nhưng không bao giờ bị người đồng hóa. Người thì muôn đời vẫn là người, còn ta thì vạn kiếp vẫn là ta. Bỏ ta theo người là mất gốc (vong bản), phản bội tổ tiên và đồng bào của mình: UỐNG NƯỚC NHỚ NGUỒN là thế đó.
• Có rất nhiều người hiểu nhầm, bỏ ta theo người mà vỗ ngực là thức thời tân tiến. Tỷ dụ Việt Cộng chẳng hạn, đem toàn bộ chủ nghiã Mác Lê vào rồi bắt dân ta phải theo y chang không được phê phán. Tỷ dụ Gia Long chẳng hạn, đem toàn bộ Luật Càn Long và đạo Khổng phế thải, bị bóp méo từ thời nhà Tây Hán không biết bao nhiêu lần mà kể, để bắt dân ta chấp nhận nô dịch tư tưởng.

Trong khi đó thì bụt nhà không thiêng:
Đức Trần Hưng Đạo và quốc sư Nguyễn Trãi đã nhắc-nhở dân ta là: Nô dịch tư-tưởng và văn hoá là nô dịch từ trong tâm nô dịch ra, nô dịch từ đời cha truyền đến đời con, rất khó cứu chữa.

Nếu cần phải cải sửa xã hội của mình thì chính con dân đất Việt phải tự sáng tạo lấy, cái đó mới gọi là Cầu-tiến.

Cũng xin nói thêm cho rõ chữ Hoà Đồng: Hòa là trộn vào với nhau. Đồng là cùng một tính chất. Như đường trộn với đường thì gọi là hòa đồng. Đường trộn với cát thì gọi là hòa hợp, trộn lẫn lộn với nhau nhưng ai vẫn giữ đặc tính của người nấy. Đây là hoà mình trong xã hội tiếp cư. Còn đường trộn với nước thì gọi là hòa tan trong nước. Đây là bị đồng hóa bởi xã hội tiếp cư; tức bỏ ta theo người đó.
• Chữ hòa đồng dân tộc có nghĩa là Kết Hợp với nhau bằng TÂM và Cư Xử với nhau bằng ĐỨC. Nghĩa là hãy đem cái tốt mình HÒA với cái tốt của người để kết hợp dân tộc; còn cái gì không thích hợp thì nên giữ lại cho mình, đừng bắt người khác phải theo.

Ngày nay, vì bị nô lệ quá lâu, ngôn từ không hiểu rõ lại thích dùng ngoại ngữ, cộng thêm tình trạng tâm tư bất an, tinh thần xao xuyến vì lạc hồn dân Việt cho nên không biết đi về đâu nên có rất nhiều người nhầm Văn Minh với Văn Hóa. Nhầm Kiến thức Khoa-học Kỹ-thuật với Ý-thức dân tộc nên nghĩ rằng: Người Văn Minh (về vật-chất, chứ không phải tinh-thần) hơn ta; bỏ ta theo người là thức thời tiến bộ và quay lại nguyền rủa cha ông của mình chỉ vì không hiểu tâm tư người xưa.
Vì thế cho nên đã vô tình chấp nhận nô-lệ mà không hề hay biết. Điển hình là sự du nhập toàn bộ chủ thuyết Cộng sản vừa qua một cách mê-muội và mù-quáng. Đây là điểm mà chúng ta cần phải khai thông. Chúng ta sẽ cùng nhau phân tích kỹ càng để khai thông bế tắc tư-tưởng trong một dịp khác.
Tạm kết về tinh thần Cầu Tiến:
Tinh thần Cầu-tiến là quy luật tiên quyết để được tồn tại, ngửa mặt nhìn đời mà Tổ Tiên chúng ta đã nhìn thấy,và đã nhấn mạnh ngay từ lúc khai quốc.

b/- Tinh thần Tự-lực và Tự Cường:
• Toàn dân kháng chiến, toàn diện đấu tranh trong thế liên hoàn tiếp ứng.

Theo thông điệp qua câu chuyện thì lúc đó dân Việt chỉ vẻn vẹn có: 2 ông bà và 100 người con. Phân chia làm hai, 50 con theo mẹ lên núi (để làm gì?) và 50 con theo cha xuống biển (để làm gì?).
• Hãy coi 100 người con là 100 binh đoàn được chỉ huy bởi Thống Chế Bộ Binh (Âu Cơ) và Thống Chế Thủy Binh là Lạc Long.

Nay, chúng ta vì tinh thần băng hoại, tự ti, yếm thế được vun trồng và tưới bón trong thời gian nô lệ quá lâu nên phần lớn đều than khóc và cho đây là cảnh chia ly não nề …..SAI!
Thực ra đây là tinh thần Tự-lực, Tự-cường và Tự-trọng cần phải có trong con người Việt, cả trai lẫn gái, để bảo vệ sự tự chủ.
Tinh thần Tự-lực Tự-cường đưa ta tới nguyên lý:

• Hạnh phúc của dân Việt phải được xây dựng bằng chính bàn tay và tim óc của toàn thể con dân đất Việt. Toàn dân giữ nước chứ không phải Triều Đình giữ nước.

• Tinh thần Tự Trọng còn được nhấn mạnh thêm trong danh từ Văn Lang nữa.

Tinh thần Tự-trọng cho ta nguyên lý căn bản là:

• Ta không xây dựng hạnh phúc của Ta trên sự đau khổ của Người.
Cái này dẫn tới quy luật đấu tranh tự vệ là:
Cương quyết tiêu diệt kẻ thù, nhưng không được quyền truy kích hay báo thù trong lúc đấu tranh. Ngược lại còn phải Độ-lượng và Bao-dong với kẻ thù sau khi chiến thắng để xóa bỏ hận thù, xây dựng hạnh phúc cho cả đôi bên.

Điều này cũng đã được nói lại trong cuốn Vạn Xuân của Quốc Sư Nguyễn Trãi.
• Thuyết Vạn Xuân là thuyết dạy cách sống hài hòa trong cộng đồng nhân loại để được vui tươi như mùa xuân trong vạn năm (10.000 năm)

Vậy thì tư-tưởng này là chủ đích của tổ tiên đã dùng danh từ một cách nhịp nhàng; chứ không phải là một sự tình cờ trong việc sử-dụng ngôn từ.

Từ đây chúng ta suy ra các nguyên lý sau:
– Trông chờ ngoại bang tức trông chờ nô-lệ.
– Tranh đấu cho tư-tưởng ngoại lai là tranh đấu cho sự mất gốc, là tự sát.

Tổ tiên chúng ta đã xác quyết như vậy trong triết lý Rồng Tiên khai quốc, đúng hay sai tùy ta phê phán.
Còn gì cao quý bằng khi giặc đến cướp nước thì toàn dân nhất tề đứng lên kháng chiến, không phân biệt già trẻ trai hay gái. Tư-tưởng này được tóm gọn trong câu:
Giặc đến nhà, đàn bà phải đánh

Khi giặc Tàu từ phương Bắc (tức con cháu Đế Nghi) đến cướp nước thì một nửa theo Nữ Tướng Âu Cơ, thiện chiến về vùng núi rừng (dã chiến), lên núi Ngũ Lĩnh nằm trong dãy núi Tần Lĩnh ở sông Dương Tử để ngăn chặn giặc từ phương Bắc tới.
Nửa còn lại thì theo Nam Tướng Lạc Long, giỏi về thủy binh, tiến ra vùng biển Đông để tiêu diệt giặc đột nhập vào bằng đường biển.

Ở thời điểm này thì núi rừng bao la và biển cả mênh mông là biên giới thiên nhiên. Chúng ta không thấy nói tiến về phương Nam để mở mang bờ cõi, hay truy kích giặc sang bên kia dãy núi Ngũ Lĩnh là vì Học Thuyết Rồng Tiên dạy chúng ta cách Tự Vệ chứ không dạy cách đi xâm lăng để có Vạn Xuân thanh bình (tức 10.000 năm thanh bình).

Thuyết Rồng Tiên cũng không dạy ta cách trả thù, mà dạy chúng ta tinh thần khoan dung độ lượng khi việc đã thành. Chứ không phải khoan dung độ lượng khi ta thất thế.
• Đây là đặc tính của dân Việt đã thành truyền thống rồi.

Đây đúng là lúc dân ta thành lập binh đội, gửi ra biên ải (địa đầu giới tuyến) để ngăn chặn giặc thù bảo vệ quê hương. Nay ta gọi là Tổng Động Viên. Vậy thì câu chuyện Rồng Tiên khai quốc là thông điệp nước Văn Lang lúc thời loạn

Điển hình là nhà Trần sau khi đuổi giặc đã đốt kho tàng trữ văn kiện của những kẻ đi với giặc. Nhà hậu Lê đã cấp 500 chiến thuyền cho hàng binh Vương Thông về Tàu. Nhà Tây Sơn không những đã phóng thích tù binh Mãn Thanh sau khi đã vào Thăng Long mà còn đối xử rất tử tế với nhà Trịnh và nhà Lê. Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã đối xử rất tốt với nhà Nguyễn.

Vì mất hồn dân Việt nên Gia Long mới quật mả anh em Tây Sơn để trả thù, và hành hạ một cách hèn nhát những người cộng sự với nhà Tây Sơn.
Cũng vì mất hồn dân Việt nên Việt Cộng mới hành hạ người cùng chủng tộc nhưng khác chính kiến sau khi chiếm được quyền hành để gây oán khí ngập trời, làm tan nát lòng người.

Đây là sự mất hồn dân tộc để chối bỏ cội nguồn chứ không phải là lạc hồn dân Việt. Vì nếu lạc hồn thì còn có sự trở lại bằng hành động xám hối và phục hồi danh dự cho những người chết oan. Hy vọng là thế hệ chúng ta chỉ có lạc hồn dân Việt mà thôi,chứ đừng mất hồn thì hết đường cứu chữa.

Tạm kết tinh thần Tự-lực, Tự-cường và Tự-trọng
Tự-lực, Tự-cường là quy luật phải có để bảo vệ sự tự chủ mà tổ tiên ta đã xác quyết ngay từ ngày khai quốc. Thêm vào đó cần phải có tinh thần Tự-trọng để khoan dung với kẻ thù sau khi đã thành công để xây dựng hạnh phúc cho người dân ở cả đôi bên cho được lâu dài.

Ý niệm này cũng được ký thác trong câu đầu của bài Bình Ngô Đại Cáo là:
“Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân”

c/- Tinh thần Tự Trọng: (Văn Lang)
Theo nghiã thì chữ Văn có nghiã là đẹp, chữ Lang là người Hào-hoa, Phong-nhã. Phóng-khoáng Hào-hiệp. Lịch-sự Bặt-thiệp.

Con người như vậy tất phải có tinh thần tự-trọng. Mà đã tự-trọng thì không bao giờ nhặt của rơi chứ đừng nói đến đi ăn cắp hay ăn cướp nữa. Vậy thì tinh-thần Tự-trọng đưa ta tới nguyên lý:
• Ta không xây dựng hạnh-phúc của ta trên sự đau khổ của người. Do đó mới có quy luật đấu tranh tự-vệ.

2)- Nguyên tắc tổ chức xã-hội:
Muốn có khả-năng để bảo-vệ sự tự chủ thì ít nhất xã-hội phải được yên vui, trên thuận dưới hòa. Còn nội bộ bất an thì không thể nào chống ngoại-xâm được. Vì ý thức như vậy nên tổ tiên chúng ta mới khẳng định rằng:
a)- Phải có sự bình đẳng, bình quyền tuyệt đối. Không những về mặt pháp-lý, mà còn trai gái như nhau nữa.
b)- Phải có sự tương thân, tương ái. Tức về tình và nghiã: Tình anh em và nghiã đồng bào.
c)- Phải có sự hoà đồng với nhau để muôn người như một. Tức hợp quần gây sức mạnh.

Nói khác đi là phải thực tâm chung lưng đấu cật để xây dựng đất nước. Không chân trong chân ngoài; không kéo bè kết cánh để thủ lợi. Không lưu-manh chính-trị trong đồng bào ruột thịt..

Tổ tiên chúng ta đã xác quyết là chỉ có Ta và Thù chứ không bao giờ có bạn trung thành cả, vậy đừng há miệng chờ xung.

• Ta là người cùng một văn hóa, cùng một tư-tưởng, cùng một ngôn từ. Đó là ý nghiã danh từ Đồng Bào; đồng là cùng và bào là bọc; tức cùng một bọc trứng mà ra.

• Còn Thù là ngoại bang. Tức người muốn phá hủy hạnh phúc của dân ta. Hãy coi chừng! nay họ là bạn vì quyền lợi vật chất tương đồng. Đến khi quyền lợi bất tương đồng thì họ trở mặt thành Thù ngay đó.

Quan niệm này đã được ký thác trong danh từ Đồng Bào. Quan niệm này đến nay còn đúng hay đã sai rồi?

Ngoài ra tổ tiên ta còn quan niệm rằng: Nếu nô-lệ (mất nước) thì tất cả con dân đất Việt đều cùng chung một số phận. Vậy chớ cõng rắn về cắn gà nhà, chớ rước voi về dày mồ mả tổ tiên, ông bà cha mẹ. Do đó chúng ta không có quyền phản bội nhau, ngóc cẳng nhau.

Tư-tưởng nói trên đã được tổ tiên chúng ta diễn tả rất rõ-ràng, minh-bạch qua câu chuyện một bọc 100 trứng 100 con, cùng cha cùng mẹ lại nở ra cùng một lúc. Không có anh trên em dưới chi cả. Yếu tố đồng đều như nhau và yếu tố thời gian đã được nhấn mạnh. Rõ-ràng đó là thông điệp mà người xưa muốn truyền đạt cho hậu thế phương cách giữ nước.

Thông điệp đó là:
a)- Bình đẳng và bình quyền tuyện đối (về pháp lý)
b)- Tương thân tương ái với ý niệm muôn người giống nhau như đúc (Đồng Bào).
c)- Hoà đồng với nhau vì cùng một văn-hóa Lạc Long, và cùng một huyết-thống Âu Cơ.

Rõ ràng thông điệp này nói lên các yếu tố căn bản để xây dựng một xã-hội kết hợp với nhau bằng Tâm và cư-xử với nhau bằng Đức. Chữ Đức có nghiã là chỉ đem cái tốt đến cho người, còn cái xấu thì giữ lại cho riêng cá nhân ta. Đep đẽ đem ra, xấu-xa đậy lại.

Tạm kết về nguyên lý tổ chức xã hội
(hợp quần gây sức mạnh):
Đây có phải là quy luật bất biến để tổ chức xã-hội Việt mà tổ tiên chúng ta đã nhìn thấy từ lúc khai quốc không? Nếu đúng thì chúng ta có quyền tự hào về nòi Việt được không?

Vậy thì toàn thể con dân đất Việt, chục triệu người như một. Cùng một khuôn một lò Lạc Long Âu Cơ mà ra.
• Đây đúng là cái Hồn Việt và Tâm Việt mà chúng ta phải có thì mới cứu được nước.

Vì là Đồng Bào nên trong xã hội Việt không có giai cấp, mà chỉ có chức vụ mà thôi. Người giàu giúp người nghèo. Người sang giúp người hèn. Người giỏi chỉ bảo người dốt để tất cả cùng vươn lên. Trong xã-hội Việt người ta không hỏi tài năng, bằng cấp của nhau, mà cũng chẳng hỏi vợ đẹp con khôn giàu sang phú quý. Người ta chỉ hỏi nhau có mỗi một câu:
• Nhất Sỹ nhì Nông. Hết gạo chạy rông, Nhất Nông nhì Sỹ.
Có nghiã là:
Anh đã giúp được gì cho cộng-đồng (xưa kia là làng xóm) của anh chưa? Nếu giúp rồi thì đừng kể công, vì mọi người đã tự động ghi ơn; còn chưa thì nên giúp đi. Đừng tự đề cao mình.
Đi sâu vào lịch sử dân Việt thì chúng ta thấy tư-tưởng này đã có từ ngày khai quốc. Câu chuyện Rồng Tiên chỉ lập lại cái gì đã có trong xã-hội Việt rồi viết thành văn; chứ không ai đẻ ra cái mới cả. Do đó câu chuyện này động đến Tâm người Việt rất nhiều; và còn lưu truyền bằng miệng trong dân gian cho tới ngày hôm nay là thế. Muốn hiểu thêm điểm này xin quý vị coi thêm bài Ý Nghiã Của Tế Lễ trong đặc san Văn Lang số 1, tiếng nói của Ban Tế Tự Paris, ra ngày 8/4/89.

Từ ý niệm Đồng Bào mới phát sinh ra những tập tục mà ngày nay đôi khi trở thành sáo-ngữ. Tôi xin đơn cử ra đây một vài nhận xét để chứng-minh là quan-điểm trên của tổ tiên chúng ta là có dụng ý chứ không phải vô tình trong cách dùng từ ngữ.

1.- Cách xưng hô với tình thân vai vế trong gia đình nay đã là một truyền thống tốt đẹp nên tiếp tục giữ gìn và phát huy. Đặc thù dân Việt đó.
2.- Tinh thần đùm bọc, nhường cơm sẻ áo nay vẫn còn áp dụng. Chúng ta nên giữ thói quen này. Tinh hoa dân Việt đó.
Đó là trước khi ăn phải mời, dù đó là phần ăn của mình. Nếu ta đang ăn có người đi qua thì bổn phận của người đang ăn là phải mời người đi qua cùng ăn với mình, dù đó là phần ăn của mình. Tại sao? Vì ta đã coi nhau như anh em (đồng bào), không lý ta ăn để cậu em chầu rìa thì không được.
Do đó phải mời cậu em cùng ăn với mình. Không mời mà để cậu em chúc mình ăn ngon miệng là chửi xéo nhau đó: Tham ăn tục uống. Không biết nhường nhịn: Ăn trông nồi, ngồi trông hướng.

Còn Tây phương thì ngược lại. Người đi qua có bổn phận phải chúc người đang ăn là Kính chúc quý vị ăn cho ngon.
Tại sao? Vì quan niệm sống của họ là cá nhân chủ nghiã, phần ai nấy ăn. Đói thì đã có cháo thí của xã-hội, nên họ chúc nhau ăn cho ngon. Vì ăn có ngon thì mới có sức khỏe. Đó là thực tế: có thực mới vực được đạo.

Còn người Tàu thì mạnh ai nấy ăn. Chẳng mời nhau cùng ăn, mà cũng chẳng chúc nhau ăn cho ngon. Vì họ quan niệm là đất của Chúa, lúa của Trời.
• Trăm họ đều là con dân của Thiên Tử. Đói thì đã có Thiên Tử lo, mắc mớ chi mà mời mọc khách sáo lôi thôi.

Đó là do quan niệm sống của từng dân tộc một; nên cách giao tế mỗi nước mỗi khác. Cái này ta gọi là Sắc Thái của dân tộc. Nhờ những sắc thái này nên mới có hoà đồng dân tộc đó.

Vậy thì chữ Đồng Bào đã biểu thị tinh thần dân chủ, trai gái giống nhau rồi. Ấy thế mà ở Âu Châu, mệnh danh là văn minh tân tiến phải đợi mãi đến cuối thế kỷ thứ 18 mới có phong trào đòi dân chủ, tốn biết bao xương máu. Và phải đợi mãi đến thế kỷ thứ 20 mới có phong trào đòi Nữ quyền (chậm tiến).

Đối với dân Việt thì Nam Nữ cũng là người cả, do đó chỉ có mỗi một cái quyền là quyền làm người mà thôi. Tức Nhân quyền chứ chẳng có Nam quyền và Nữ quyền bao giờ cả. Xin coi thêm Luật Hồng Đức thì thấy rõ chứ không phải chúng tôi phóng đại tô mầu, đề cao dân Việt đâu..

3)- Phong thái người Việt:

Tổ tiên chúng ta rất thực tiễn, quan niệm rằng:
• Giá trị của xã hội phải lấy giá trị của cá nhân làm căn bản.

Giá trị của đám đầu lãnh (Triều đình) chưa đủ để bảo vệ giá trị của xã-hội. Vì ngoài đám xôi thịt đầu lãnh ra, người dân còn ngu dốt. Tức ngoài đám tham quyền cố vị, người dân còn u-tối thì làm sao xã hội an bình được?
• Vậy thì Thuyết Thiên tử không có giá trị tâm linh. Vì người dân còn dốt nát nên mới cần Thiên Tử khai phóng.

Còn xã-hội Việt của nước Văn Lang là xã hội dân chủ phân quyền của những con người toàn hảo, thanh tao: Hào-hoa, Phong-nhã. Phóng-khoáng, Hào hiệp. Lịch-sự, Bặt- thiệp.

Trong nước Văn Lang không có người dốt. Vì Lang đã là người đáng được kính trọng rồi (gentleman), lại còn thêm chữ Văn là Nho nhã nữa.
• Vậy thì Văn Lang là đất của giống dân nho-nhã được dùng để đối kháng với chữ Trung Hoa.

Quan Lang thì đi với Quản Thú. Quan Lang là ông quan coi về sinh hoạt cộng đồng của con người; còn quản thú là người coi về cuộc sống của loài thú.
Lang Y thì đi với Thú Y. Lang Y là dùng thuốc chữa cho người; còn Thú Y là dùng thuốc chữa cho vật.
Lương Y là ông thày thuốc có lương tâm nghề nghiệp; còn Lang Băm là ông thày thuốc bất lương: Sống chết mặc bay, tiền Thày bỏ túi.
Ông thày thuốc Đông Y thì được gọi tắt là ông Lang, như ông Lang Vòng ở hàng Trống Hà Nội. Còn ông thày thuốc Tây Y thì được gọi tắt là ông Bác Sỹ hay ông Đốc (tức Docteur en Médecine) như bệnh viện ông Đốc Lạc (Đặng Vũ Lạc) ở ga hàng cỏ Hà Nội.
• Loài Lang sói là lòng người mà dạ thú; tức hình dáng là người mà tâm địa giống thú vật.

Đây rõ là đầu óc thực tiễn của tổ tiên chúng ta khi quan niệm về giá trị thực chất của một xã-hội, không màu-mè bịp-bợm như thuyết Thiên Tử của Tàu.

Tạm kết về phong thái dân Việt
Không những tổ tiên ta tự-hào con dân đất Việt đều là những người hào-hoa, phong-nhã; mà còn tự hào là con dân đất Việt có đức độ Rồng Tiên, có văn hóa LạcHồng.

Tức là biết bao-dong và che-chở cho những kẻ thất-thế, cô đơn. Biết dùng Uy và Vũ để ngăn chặn bạo lực ỷ mạnh hiếp yếu. Rồng và Tiên đều là siêu nhân cả, có toàn những đức tính tốt.
Rồng Tiên chỉ biết cứu giúp và ban phước cho người, chứ không bao giờ làm hại người cả.

4)- Sắc thái dân Việt:

Từ triết thuyết này tổ tiên ta mới chọn màu vàng của tơ tầm, của kén tầm làm sắc thái của người Văn Lang mà ta gọi là sắc thái dân Việt.
Thực vậy, màu vàng của tơ tầm và kén tầm đã chứa đựng đầy đủ ý nghiã của học thuyết Rồng Tiên rồi.

1. Màu vàng của tơ tầm là màu vàng của sự tinh-khiết, tượng-trưng cho chủng tộc Rồng Tiên.
2. Màu vàng của kén tầm tượng-trưng cho sự gắn bó đùm bọc; đó là tinh thần Đồng Bào.
3. Màu vàng của lụa tơ tầm là màu vàng cao sang quyền quý, tượng-trưng cho các đức tính của ngưới Văn Lang: Hào-hoa, Phong-nhã. Phóng-khoáng, Hào-hiệp. Lịch-sự, Bặt-thiệp.

Tạm kết về Sắc Thái dân Việt
Màu vàng của lụa tơ tầm đã gói-ghém trọn vẹn học thuyết Rồng Tiên khai quốc: Học thuyết tự-vệ của dân tộc Việt.
• Còn màu đỏ của mặt trời (đỏ của lửa) đã gói-ghém trọn vẹn học thuyết xâm lăng Thiên Tử.

B/- Đối ngoại:

Theo tiến trình bình thường của cuộc chiến thì hai bên kể tội nhau trước rồi mới tuyên chiến sau khi đưa tối hậu thư. Nghĩa là tao bảo mà mày không nghe thì nay tao đánh mày. Đây là đấu lý trước khi đấu lực. Nay ta gọi là tuyên xưng chánh nghiã trước khi khai chiến.

Bây giờ đem từng điểm đối chọi của thuyết Thiên Tử và thuyết Rồng Tiên ra phân tích thì ta nhìn thấy ngay là: Thiên Tử là thuyết xâm lăng, còn Rồng Tiên là thuyết tự vệ. Có thế đánh, thế đỡ hẳn-hoi.

1)- Vua Tàu tự xưng là Thiên Tử thì chúng ta xưng là Rồng Tiên.
Thiên Tử thì từ trên trời rơi xuống, còn Rồng Tiên là chúa tể muôn loài ở ngay trên trái đất này.
Như vậy có ý muốn nói là: Mi con trời ở đâu thì ta không biết. Nhập gia tùy tục, nhập giang tùy khúc. Ở đây ta làm chúa tể muôn loài. Vậy đến đây mi phải phục tùng ta.

2)- Chữ trăm họ của thiên tử thì ta gọi là Tàu Ô. Có nghiã là trăm họ tạp dịch, ô-hợp và ngố của dân Tàu thì làm sao dám so sách với trăm giống tinh anh con nhà nòi Rồng Tiên được.
• Đây là một cách thị oai với kẻ hung hãn coi trời bằng vung.

3)- Chữ Văn Lang được dùng để đối kháng với chữ Trung Hoa. Có nghiã là mi tự xưng là trung tâm tinh hoa của vũ-trụ ở đâu thì ta không biết. Dân nước mi còn ngu dốt nên mới cần một ông vua dìu-dắt, khai phóng.
Còn nước Văn Lang của ta gồm toàn người giỏi, rộng lượng bao dong nên tự kết hợp để làm việc chung. Nước văn Lang không ai dốt cả nên ta không cần mi dạy bảo, dìu-dắt. Hãy im mồm đi.

4)- Màu vàng của tơ tầm nói lên xã hội dân chủ phân quyền, lấy dân làm gốc (thuyết Dân Vi Quý). Còn màu đỏ của Thiên Tử (mặt trời) là màu đỏ của xã hội bất bình đẳng dưới chế độ Quân Chủ Chuyên Chế (vua bảo thì bày tôi phải nghe): Đất của Chúa, lúa của Trời.

Hai nếp sống đối nghịch nhau chan chát. Vì thế nên trong bài Bình Ngô Đại Cáo, quốc sư Nguyễn Trãi đã mở đầu bằng phát pháo lệnh oang-oang như sau:
Chỉ có nước Đại Việt của Ta mới thực sự là nước có nền Văn Hiến (nhân bản của loài người).
Sơn hà cương vực đã chia, phong tục Bắc Nam có khác.

Dân ta vẫn theo đạo sống của dân Việt (Việt Đạo) chứ có theo đạo Khổng của dân Hán bao giờ đâu. Vậy sao ngày nay chúng ta tự dưng đem gông nô dịch tư-tưởng mà khăng khăng nói rằng đạo Khổng đã ăn sâu vào xương tủy của dân Việt rồi? Đây có phải là sự nguy hiểm của nô-dịch tư-tưởng, nô-dịch văn hoá mà đức Thánh Trần đã cảnh tỉnh hay không?

• Đạo Khổng nói nhất Nam viết hữu thập nữ viết vô,.
Vậy tại sao trong luật Hồng Đức trai hay gái đều hưởng gia tài như nhau?

• Đạo Khổng nói tứ đức tam tòng.
Vậy tại sao dân Việt có châm ngôn về người đàn bà như sau:
Tốt gỗ hơn tốt nước sơn,
Xấu người đẹp nết còn hơn đẹp người.

Dân Việt kén dâu là kén người đảm đang tay hòm chià khóa để còn gánh vác giang sơn nhà chồng. Vì thế nên mẹ chồng có nhiệm vụ dạy nàng dâu gia-phong nhà mình. Vậy tại sao ngày hôm nay chúng ta lại nói câu: Mất tiền mua mâm thì đâm cho thủng?

• Đạo Khổng nói thủ tiết ở vậy thờ chồng nuôi con.
Vậy tại sao dân Việt lại: Hết 3 năm tang chế, lạy anh em đi lấy chồng?

• Đạo Khổng nói chồng bảo thì vợ phải nghe.
Vậy tại sao trong luật Hồng Đức văn tự mua bán bất động sản phải có chữ ký của cả 2 người? Tại sao ta có câu: Thuận vợ thuận chồng thì tát bế Đông cũng cạn.
Ta vẫn nói vợ chồng như đũa có đôi, hay một cặp vợ chồng…. bao giờ bà vợ cũng đi trước ông chồng. Trong khi đó dân Tàu thì bao giờ Phu cũng đi trước Thê.

Đó là một vài ghi nhận suy tư sai lệch mà chúng ta không để ý. Tưởng là nhỏ nhặt, nhưng đó là căn bản để đưa đến mất nước chỉ vì hồn nước mất trước nên nước mới mất sau.

Tạm kết về Phong Tục Bắc Nam
Tổ tiên ta thì thực tiễn, lấy giá trị sở thấy, trông thấy ngay trước mắt để đả phá giá trị bịp-bợm, viển-vông và huyênh-hoang, dối-trá của thuyết Thiên Tử.

• Có đúng là thuyết Rồng Tiên dạy con người phương cách tự-vệ để chống với thuyết xâm lăng Thiên Tử không?
• Thuyết Rồng Tiên phản ảnh đúng tâm tình của dân Việt.
• Còn thuyết Thiên Tử phản ảnh tâm trạng của dân Tàu, vừa ô-hợp lại vừa ngây-ngô nên mới cần phải có một ông vua lãnh đạo. Muốn lãnh đạo đám ngu dân thì ông tự phong cho mình cái chức: Con Trời để tạo uy quyền bịp-bợm.

C/- Y Học:

Ở thời điểm mà Âu Châu còn chưa biết sinh nở phải có 2 giống; thế mà tổ tiên ta đã khẳng định là dù sinh vật có vú hay không thì mới đầu phải đậu thai bằng trừng trước đã. Từ cái trứng đậu thai (có âm, có dương) rồi mới phát triển thành sinh vật được. Đó là thuyết Tam Tài trong Kinh Dịch.
Đây có phải là tư-tưởng siêu việt của tổ tiên chúng ta hay là chuyện thần-kỳ quái-đản người đẻ ra trứng? Không những chẳng đẻ ra một quả mà lại đẻ ra cả một bọc.
• Rồng Tiên là những sinh vật siêu nhân, vô hình, đẻ ra cái gì mà chả được?
• Rồng thì đẻ ra trứng chứ có bao giờ đẻ ra con đâu mà bới lông tìm vết để ngụy biện những ẩn dụ của câu chuyện mà mình chưa biết.

Phần đúc kết:

Thưa quý vị,
Sau phần phân tích tỉ-mỉ vừa qua, theo nhãn quan của chúng tôi thì: Câu chuyện Rồng Tiên khai quốc đã chuyên chở một triết lý để hướng dẫn dân Việt trên con đường đấu tranh tự tồn.

Học thuyết Rồng Tiên là căn bản của khoa Nhân Văn Việt Tộc, tức môn học tu thân của dân Việt, học để xứng đáng làm người Việt tốt. Học thuyết này là học thuyết dạy ta phương cách tự-vệ để chống lại mưu đồ xâm lăng của học thuyết Thiên Tử.

Thuyết Rồng Tiên phản ảnh đúng với tâm tình và khả năng của dân Việt. Vì nhu cầu đấu tranh nên thuyết này mới được viết thành văn bản, dưới thời Lãnh Vương nước Việt tên là Câu Tiễn, để nói lên 20 năm đấu tranh trong thế cá nằm chốc thớt. Nơm-nớp lo sợ Ngô Phù Sai bên Tàu.

Thuyết Rồng Tiên nói bối cảnh lịch sử nước Văn Lang trong thời chiến, còn hình ảnh trên mặt trống đồng diễn tả nước Văn Lang lúc thời bình.

Dù bình hay loạn thì cách tổ chức xã-hội Việt cũng giống nhau ở điểm:
• Kết hợp với nhau bằng Tâm và cư-xử với nhau bằng Đức.
• Bình đẳng tột cùng, thân thương tột độ.

Thuyết này đã xác định rõ Ta và Thù, chứ không có bạn trung thủy bao giờ cả.

Thuyết này đã dựa trên 4 tinh-thần chính là:
• Tự-lực. Tự-cường. Tự-trọng và Cầu Tiến.

Từ 4 tinh thần căn bản này mới đẻ ra 4 nguyên tắc của cuộc sống để xây dựng xã hội Việt, một xã-hội hài-hoà phù hợp với tâm tình và khả năng của con người Việt.

Bốn nguyên tắc đó là:
1. Ta sống cho Ta.
2. Ta sống cho Gia-đình Ta.
3. Ta sống cho Cộng-đồng của Ta (xưa là làng xóm)
4. Ta sống cho đất nước (tức dân tộc) của Ta.

Nói tóm lại là: Ta phải bảo vệ sức sống của dân tộc, trong đó có sự sống của chính Ta.

Thật vậy, nếu con dân đất Việt không biết bao-dong và che chở cho nhau thì ai là người thực tâm bảo vệ sự sinh tồn cho chúng ta đây? Không lý trông vào Nga, vào Mỹ, vào Tây, vào Tàu hay Nhật Bản, Đức quốc hay sao?

Thời Quang Trung bách chiến bách thắng cũng chỉ vì binh đội Tây Sơn được trang bị tư-tưởng bằng Triết Thuyết Việt Tộc với mục tiêu tối hậu là:
• Phục hồi vị thế Việt Tộc trong cộng đồng nhân loại.

Thời Đại Vương Lê Lợi hay Đức Trần Hưng Đạo quét sạch ngoại xâm cũng nhờ trang bị tư-tưởng bằng Triết Thuyết Việt Tộc nên mới có ý chí quyết tử với mục tiêu duy nhất là:
• Nam Quốc Sơn Hà Nam Đế cư.
tuyên xưng chánh nghĩa của Thống Chế Lý Thường Kiệt (bình Tống phạt Chiêm)

Vì thế mới có:
1. Châu Chấu lại đòi đá xe, tưởng chừng Chấu chết chẳng dè xe nghiêng (nhà Trần phá quân Mông)
2. Ta đây mưu phạt công tâm, không đánh mà người phải khuất. Đó là dùng sức mạnh tâm linh để trấn áp những kẻ hữu dũng vô mưu, hay bất nhân bất nghiã; chỉ biết có Cả Vú Lấp Miệng Em (Lam Sơn diệt Ngô).

Còn những thời nô-lệ đều là những thời con dân đất Việt đã để mất sự Tự-hào dân tộc, sống trong cảnh tâm-tư bất an, tinh thần thác loạn. Đó là thời Dân Trí suy đồi; Tâm Tư lệch-lạc. Thời mà người xưa gọi vắn tắt trong câu:
• Hồn nước mất trước, nước mất sau. (Chuyện Trọng Thủy Mỵ Châu)

Nay muốn lấy lại nước thì phải lấy lại hồn nước trước thì sớm muộn chi cũng lấy lại được nước sau.
• Đừng lo độc lập không tới, mà chỉ sợ người dân không đủ sức để giữ nó.

Nay, muốn phục hồi vị-thế dân Việt trong cộng đồng nhân loại thì chúng ta không có cách gì hơn là:
1. Đem Tâm Việt và Hồn Việt đến với người Việt bằng cách khơi động giòng máu Việt trong con người Việt để khôi phục dân khí trước đã (Giáo khoa Việt Tộc).
2. Sau đó trang bị tư-tưởng con người Việt bằng Học Thuyết Việt Tộc để làm cái vốn căn bản cho những ai muốn giúp nước cứu đời (Nhân văn Việt Tộc).

Đây là chất liệu cần phải có cho sự hòa đồng dân tộc. Có hòa đồng dân tộc thì mới có đoàn kết để hợp quần gây sức mạnh, nhất là sức mạnh tâm linh và ý chí. Đây cũng là kim chỉ Nam cho chúng ta khỏi lạc hướng.

Đây cũng là lời ứng nghiệm của bố Lạc Long khi chia tay các con đã ân cần căn-đặn là:
• “Chừng nào giặc thù tới cướp nước, chống đỡ không nổi thì gọi: Bố ơi về cứu chúng con”

Bố ở đây là Văn-hóa Việt là Lịch-sử Việt. Mẹ ở đây là Tâm Việt và Hồn Việt.

Đây đúng là bửu-bối giúp chúng ta giải quyết vấn nạn ngày hôm nay. Phải thực tâm kêu cứu thì mới ứng nghiệm được. Vì khi thực tâm kêu cứu là chúng ta đã có ý chí quật khởi và tự-tin vào sức mạnh dân tộc chưa được sử-dụng tới.

Còn kêu cứu chiếu lệ là ỷ lại, không có tinh thần tự-lực, tự-cường và tự-trọng thì làm sao ứng nghiệm được?

Chúng ta hãy trắc nghiệm xem có hiệu nghiệm không. Người Pháp có câu: Aides-toi, Dieu t’aidera. Tạm dịch là: Hãy làm đi, Thượng Đế sẽ giúp mi.
Đối với dân Việt thì Thượng Đế là Học Thuyết Rồng Tiên, hay là Thần Kim Quy hiện thân của cha Lạc Long đó. Ông vẫn về với dân gian dưới hình ông già đạo mạo, áo đỏ, râu tóc bạc phơ, vui tươi xuề-xòa với trẻ em trong làng để khuyên bảo phương cách cứu nước như trong chuyện em bé Phù Đổng.
Ba Lê, Thủ đô nước Pháp ngày 08/04/1989


Trích báo Đặc San Tết
Nhâm ngọ (2002) của
hội Ái-Hữu vùng Bắc Paris

Giỗ Tổ: Ngày Chiêu Hồn dân Việt
Hoàng Đức Phương
Trưởng Ban Tế Tự Paris

Nhân ngày đầu xuân chúng ta hãy thử nghĩ về ngày Giỗ Tổ Hùng Vương mà có người đề nghị nên xóa bỏ, vì cho đó là triều đại không có trong thực tế.
Chúng ta ai cũng biết là đền Hùng ở Lâm Thao tỉnh Phú thọ đã được xây cất từ 250 năm trước tây lịch. Tức là từ thời Thục An Dương Vương với mục đích duy nhất là tưởng nhớ công đức của các thế hệ xây dựng đất nước Văn Lang. Và từ sự tưởng nhớ công đức này thế hệ đương thời phải biết trách nhiệm và bổn phận của mình trong việc giữ nước. Từ đó đến nay đã được 2.250 năm rồi, và mỗi năm đều có ngày giỗ tổ là mồng 10 tháng 3, Việt lịch hay Âm lịch hay Quốc lịch chi đó không quan trọng bằng ý thức của con dân đất Việt về ý nghiã cao siêu của ngày này.

Vì không hiểu nên có người cho rằng đây là phường tuồng tế đám đất mối. Xét cho cùng thì dân tộc nào mà chẳng có ngày khai quốc. Thời gian khai quốc không thể hoàn tất trong một thế hệ hay một triều đại được. Vì đây là thời gian cần phải có để hoàn chỉnh phong tục, tập quán (tức văn hóa), để hoàn chỉnh ý thức dân tộc và tiếng nói, để hoàn chỉnh Việt Giáo để trở thành con người Văn Lang (Hào-hoa Phong-nhã; Phóng-khoáng Hào-hiệp và Lịch-sự Bặt-thiệp) và triết lý về đạo sống của dân Việt trong xã hội hài-hòa. Nay gọi là ý thức hệ, xưa gọi là Việt Đạo. Thiếu những cái căn bản này thì không thể nào có quốc gia dân tộc được.

Theo quan niệm của thế hệ Hồng Bàng thì con nguời Việt chỉ cần có 2 đức tính căn bản là Tự Trọng và Cầu Tiến. Tự-trọng là ý nghĩa của danh từ Văn Lang; còn Cầu tiến là ý nghĩa của danh từ Việt. Từ đây mới đẻ ra quy luật đấu tranh tự vệ và bí quyết thoát vòng nô lệ.

Ấy thế mà cả thế giới, chỉ có một mình dân Việt là có ngày nhớ ơn công đức tiền nhân để khỏi phụ lòng người xưa. Riêng điểm này không thôi cũng đã đủ để cho chúng ta hãnh diện với đời rồi. Còn không vươn lên được bằng người là lỗi ở thế hệ đương thời. Không phải vì thua kém người mà khi không lại đòi xóa bỏ ngày Quốc Tổ.
Tư tưởng này đồng nghĩa với sự hô hào đập phá đền Hùng là một di tích cổ xưa để biến mình thành những đứa con hoang không có gốc gác. Giả thử ngày nay không còn đất Việt, không còn tiếng Việt thì chúng ta là ai? Có phải là kẻ ăn bám nhân loại hay không? Vì chúng ta đâu còn giá trị tâm linh để đóng góp cho nước tiếp cư nữa. Thật vậy, hãy nghĩ lại xem có phải là điều bất hạnh cho những ai không có một quốc gia gốc để tưởng nhớ, và một dân tộc để vun trồng hay không? Hãy nhìn những sắc dân đang bị xua đuổi trên thế giới mà ngẫm lại tương lai của con cháu chúng ta sau này.

Đối với dân Việt thì lịch sử của chúng ta được chia làm 2 giai đoạn rõ rệt. Giai đoạn một là giai đoạn dựng nước (khai quốc), xây dựng nền móng cho sự hình thành của nước Văn Lang. Giai đoạn hai là giai đoạn giữ nước.

Giai đoạn một kéo dài vào khoảng 2.600 năm được gọi một cách chung chung là thời đại Hùng Vương (từ 2.879BC tới 257BC).
Giai đoạn hai bắt đầu từ Thục An Dương Vương, tức khởi điểm từ 257 năm trước Thiên Chúa ra đời. Tính đến năm 2002 thì được 2.259 năm. Tức đã được ít nhất là 2.259 cái giỗ rồi. Nay đã trở thành truyền thống nên dù muốn dù không cũng không thể xóa bỏ dưới bất cứ một lý do nào được. Nếu không hiểu rõ thì nên nghiên cứu cho ra nhẽ, chứ đừng lấy sự hiểu biết của mình cho là đầy đủ rồi hô hào xóa bỏ những bông hoa tốt đẹp nhất của tổ tiên để lại.

Tóm lược những công đức của thời đại Hùng Vương:
Nhiệm vụ của vua Hùng (danh xưng chức vụ) có bổn phận biến liên Bang Việt thành chủng tộc Việt thuần nhất mà Quốc Sư Nguyễn Trãi đã nhắc lại trong bài Bình Ngô Đại Cáo là:
• Chỉ có nước Đại Việt của Ta, thực sự đi vào từng tiểu bang một thì tất cả đều có nền Văn Hiến Nhân Bản của loài người.
• Nguyên bản chữ Tàu là: Duy ngã Đại Việt chi Quốc, thực vi văn hiến chi bang.
Chữ Đại Việt có nghĩa là con nguờiViệt có tâm hồn khoáng đạt vị tha của Rồng và Tiên, chứ không phải là một dất nước rộng lớn như Hoa Kỳ hay Nga Sô

1/- Khai sáng những triết lý căn bản sau đây:
Nếp sống hài hòa. Tinh Thần Nhân Bản. Tinh Thần Nhân Chủ. Tinh thần Thực Tiễn. Tinh thần Bình Đẳng. Tiêu chuẩn Chân Lý. Nguyên lý Đối Lập Bổ Xung. Phân công Hợp Tác. Nếp sống Tâm Linh dân tộc.
• Tất cả những giá trị này bắt nguồn từ việc ổn cư và định canh bằng nghề trồng lúa nước. Vì thế nên những đặc thù của xã hội Việt khác hẳn với những đặc thù của xã hội du-mục từ Trung Đông (Iran, Iraq) tràn qua ngả Mông Cổ rồi xuống đánh chiếm phía Nam của dân Nông Nghiệp.

2/- Xây dựng quốc gia dân tộc theo những triết lý trên:
Xây dựng ý thức dân tộc. Xây dựng Văn Hóa Nông Nghiệp. Xây dựng Nhân Đạo, tức đạo sống của dân Việt (gọi tắt là Việt Đạo). Xóa sạch thú tính. Xây dựng Đạo Lý làm người (tức Nhân Văn Việt Tộc).
• Đó là những thành quả mà chúng ta có bổn phận phải luôn luôn ôn lại để còn biết đường mà bảo vệ gia sản của tổ tiên để lại. Do đó không thể bỏ ngày giỗ tổ được.
——————————

Bây giờ chúng ta hãy cùng nhau giải tỏa một vài lấn cấn.

Cách giải mã chuyện huyền thoại

Nên nhớ rằng chuyện huyền thoại xuất hiện trong thời kỳ chưa có giấy bút, muốn lưu truyền kinh nghiệm cho hậu thế thì chỉ có một cách duy nhất là bia miệng: Huyền thoại (tức văn xuôi ngày hôm nay), Ca dao, Tục ngữ, Văn vần, Vè…

Dù là Tây, Ta hay Tàu thì chuyện Huyền Thoại bao giờ cũng có 2 vế. Vế thứ nhất là hoang đường thần thánh. Vế thứ hai là triết lý của câu chuyện (tức thông điệp người xưa).

Vế thứ nhất dùng để chuyên chở thông điệp, do đó phải phù hợp với tâm tình của dân tộc để ai ai cũng thích nghe và thích kể lại cho con cháu. Đó là truyền khẩu:
Trăm năm bia đá cũng mòn,
Nghìn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ.

Vế thứ hai là thông điệp của người xưa. Tức phải xét tình tiết của câu chuyện, phải biết phát xuất từ thời điểm nào và trong bối cảnh lịch sử ra sao thì mới giải mã được.

Do đó khi nghiên cứu thì phải biết phân biệt đâu là sự kiện lịch sử, đâu là ý kiến của người viết.

Tỷ dụ:
Ta thấy nói để con trưởng ở lại làm vua đất Phong Châu là ý kiến của người viết theo tinh thần phụ hệ (thái tử)….. Thật vậy trăm trứng, cùng cha cùng mẹ lại nở cùng một lúc thì làm sao phân biệt nổi trưởng với thứ?…. Hơn nữa, danh từ Đồng Bào đã nói lên tinh thần bình đẳng tột cùng, thân thương tột độ, triệu người như một rồi. Danh từ này có phân biệt trưởng thứ, hay trai gái đâu mà khi không lại dựng đứng lên chuyện Thái Tử, con Trưởng làm vua?
Ngoài ra câu chuyện Tiết Liêu cũng đã nói rõ là truyền ngôi cho người biết lo cho hạnh phúc của toàn dân để cùng nhau giữ nước, chứ có truyền cho con trưởng như chế độ Thiên Tử đâu.
• Giả thử để lại một người làm vua ở đất Phong Châu, vậy thì một bên chỉ có 49 Binh Đội ra biên thùy, như vậy là nói lên sự bất bình đẳng Nam Nữ, trái với ý nghĩa danh từ Đồng Bào. Trong khi thông điệp nói lên tinh thần Bình Đẳng tuyệt đối.

Chúng ta có danh từ đồng bào (cùng một bọc) mà cả thế giới không ai có cả. Nhờ danh từ này nên dân Việt mới đẻ ra những tập tục mà nay đã trở thành truyền thống tốt đẹp mà chúng ta không ai để ý đến cả. Lẽ dĩ nhiên là phải có người đề xướng và thời điểm phát xuất ra nó. Từ đây phát sinh ra nhiều phong tục đặc thù của dân Việt như:

– Trước khi ăn thì phải mời nhau. Đang ăn mà có người đi qua thì người đang ăn phải mời người kia cùng ăn với mình để chứng tỏ tinh thần đùm bọc, nhường cơm sẻ áo. Còn Tây phương thì ngược lại người đi qua phải chúc người đang ăn là ăn cho ngon miệng. Ở đất Việt mà nói vậy là chửi xéo: Đồ tham ăn tục uống.

– Cách xưng hô trong vai vế gia đình theo 3 tiêu chuẩn: Tình-cảm riêng tư; Học-thức về Việt Đạo (lối sống của dân Việt) và Tuổi-tác (6).

– Lấy màu vàng của tơ tầm làm sắc thái dân tộc. Do đó quốc kỳ bắt buộc phải là nền mầu vàng. Hình vuông tượng trưng cho lãnh thổ, nay là hình chữ nhật (3/2). Chúng ta vẫn nói: Trên đầu voi phất ngọn cờ vàng (bà Trưng).

Về những chuyện tương tự như vậy thì bao giờ cũng gồm 3 giai đoạn, phân chia theo nhu cầu của từng lứa tuổi một:

– Giai đoạn một là dạy các trẻ thơ từ nhỏ cho tới 9 hay 10 tuổi (Thiếu Nhi) thì chỉ nói đến phần hoang đường thần thánh, lung linh huyền ảo để các em ghi nhận và hãnh diện về nòi giống của mình. Dù cho rằng đó là phần hư cấu nhưng ít nhất cũng cho các em biết cái đích làm người là phải làm sao thăng hoa thành Rồng và Tiên để có thể tương thông với vũ trụ.
Phần này còn quan trọng hơn phần triết lý của thông điệp. Vì thiếu nó thì hết phần giải mã. Thật vậy, có biết câu chuyện đâu mà giải mã. Như vậy là đoạn tuyệt với người xưa, không rút tỉa được kinh nghiệm chi của người xưa cả.

– Giai đoạn hai là dạy các em từ 11 đến 15 (Thiếu Niên) tuổi phần triết lý của câu chuyện. Đó là sự thật của lịch sử được lồng dưới dạng huyền thoại để không bị mai một theo thời gian; còn thông điệp là tình tiết của câu chuyện.
• Do đó ta cần phải giải mã thì mới hiểu được phần triết lý của nó.

– Giai đoạn thứ ba là những Sinh Viên từ 17 hay 18 tuổi trở lên (Tráng Niên) hay người lớn tuổi ngồi thảo luận với nhau xem những nguyên lý đó nay còn giá trị hay không? Làm sao áp dụng để giải quyết được các vấn đề đương thời.

Nay, vấn đề đương thời của chúng ta là: Thiếu kết hợp vì tư tưởng đã bị đầu độc mà không biết. Vậy thì hãy tìm cách khai thông bế tắc tư tưởng bằng cách đem Tâm Việt và Hồn Việt đến với con dân đất Việt để họ biết Ta là ai? sống để làm gì?

Không phải ngày hôm nay chúng ta mới có nhu cầu chiêu hồn dân Việt, mà thời cụ Phan Bội Châu đã có hịch: Đề Tỉnh Quốc Dân Hồn. Nếu đọc hịch này (9) thì chúng ta sẽ thấy tư tưởng của chúng ta còn bế tắc hơn tư tưởng thời đó. Nghĩa là giá trị tâm linh mỗi ngày mỗi suy thoái đến nguy cơ diệt vong mà không hay (10). Do đó mới có người hô hào dẹp bỏ Tế Tổ Hùng Vương… Thật đáng buồn!

Đến đây chúng ta có thể nói được rằng: Trong tình huống khó khăn thì tổ tiên chúng ta luôn luôn sáng tạo ra các yếu tổ để kết hợp lòng dân. Có tạo ra sức mạnh tâm linh thì mới hy vọng kết hợp lòng người được.
Mà có kết đoàn thì mới vượt qua được trở ngại khó khăn. Hợp quần gây sức mạnh, đoàn kết thì sống mà chia rẽ thì chết. Điều này thì ai cũng biết; nhưng không ai lưu tâm đến cả, chỉ lo cãi lấy được dù biết đó là hành động gây chia rẽ.

Ngày hôm nay chúng ta đang ở trong tình trạng nghịch lý và bi đát, chúng ta đã sáng tạo được yếu tố gì để kết hợp đây? Hay chúng ta chỉ đề cao cá nhân và đả phá những ai trái ý với mình? Nếu cứ tiếp tục như vậy thì tương lai sẽ đi về đâu? Chúng ta có chịu trách nhiệm với lịch sử hay không?..

Nền Khoa học thực nghiệm của người xưa

Bây giờ chúng ta nói qua về tinh thần khoa học của tổ tiên đã ghi trên mặt trống đồng với 14 tia.
Đó là sinh hoạt của nước Văn Lang lúc thời bình mà câu chuyện Rồng Tiên đã phản ảnh rõ rệt những nét chính của xã hội Văn Lang là: Kết hợp với nhau bằng tâm và cư xử với nhau bằng Đức. Bình đẳng tột cùng thân thương tột độ.

Một đằng diễn tả bằng các vòng tròn đồng tâm, một đằng dùng danh từ Đồng Bào. Chữ Đức có nghĩa là đem những điều tốt lành đóng góp để xây dựng Cộng Đồng, còn những điều xấu thì hãy giữ lại cho mình đừng đem ra để phá bĩnh.

Thật vậy, dân ta có câu: Nhất sĩ nhì Nông. Hết gạo chạy rông, nhất Nông nhì Sĩ.
• Câu này hàm chứa ý nghĩa: Xã hội chỉ trọng những người giúp ích cho cộng đồng mà thôi. Còn học giỏi tài cao để vinh thân phì gia, giá áo túi cơm thì đó là cuộc sống vị kỷ có chi mà khoe tài khoe giỏi.

Ngoài ra nước Văn Lang lúc đó chỉ có 3 bộ. Đó là bộ Binh (giữ nước). Bộ Kinh Tế để nuôi dân và bộ Văn Hóa để học làm người Việt.

Kế đến, cũng trên mặt trống đồng chúng ta còn tìm thấy con số Pi () bằng 3, 2 ( = 3,2) thay vì  = 3,14159… của Tây Phương nữa. (Périmètre, người Hy Lạp đọc chữ P là Pi), Pi là hệ số giữa chu vi vòng tròn và đường kính. Con số 3,14159… thì chúng ta không biết từ đâu tới, thấy ông Thày Tây nói vậy nên áp dụng như con vẹt mà không hề đặt vấn đề là số đó từ đâu mà ra.
Còn con số 3,2 thuộc về khoa học thực nghiệm nên chúng ta thấy liền. Chỉ cần lấy giây đo chu vi vòng tròn, rồi lấy đường kính làm đơn vị gấy đi gấp lại thì thấy con số 3,2. Từ con số 3,2 mới ra câu thần chú (công thức) sau đây vẫn thông dụng ở Á Châu cho tới ngày hôm nay:
• Chung đôi 3 lần. Bỏ đi 3 phần, còn lại chung đôi.
• Người Tàu họ nói: Phân bát, chiết tam tồn ngũ, phân nhị.

Vì theo Tây học nên chúng ta không biết câu thần chú này, nhưng những bác thợ mộc ở Á Châu thì ai ai cũng đều biết cả. Bằng cớ là các cung điện, đền đài ngày xa xưa vẫn để cột trên bệ đá vừa in. Bác thợ mộc lên rừng đẵn gỗ đúng kích thước và bác thợ đẽo đá lên núi làm bệ đâu có cần gặp nhau mà cột nào thì bệ đó (coi cách tính 3,2 và câu thần chú ở trang 11)

• Giữa 3,2 và 3,14159… sai số chỉ có 2% thôi. Cách đây 5.000 năm thì coi như tuyệt diệu.

Cái nhầm của thế hệ chúng ta

Chúng ta hãy tạm kết ở đây bằng một vài cái sai nhầm trong lý luận mà nó đã đưa chúng ta đến sự tranh luận vô bổ từ 200 năm nay rồi:

• Chữ i và y là 2 ký hiệu khác nhau, và 2 công dụng khác nhau. Trên nguyên tắc thì đứa bé lên 8 tuổi nếu đã học quy luật về âm vị và âm vận của tiếng Việt thì không thể lộn được.

Vậy thì tại sao ngày hôm nay chúng ta đã viết lộn lại còn gân cổ cãi càn vậy? Chúng ta có tinh thần phục thiện hay không? Chữ Quí vị viết i hay y? và tại sao? (6).

Tỷ dụ chữ Yên và chữ Tiên, Biên cùng mang vần iên cả (chính vận là iên) mà cái thì viết i, cái thì viết y theo hứng; sau đó lại lớn tiếng chê chữ Quốc-Ngữ viết không có quy luật chi cả. Chữ mang tên là Quốc-Ngữ không có quy luật về âm vận rõ ràng hay chính ta không biết quy luật âm vận của tiếng Việt để viết cho đúng chánh tả?. Chữ Ty khi nào thì viết i và khi nào thì viết y?

– Sử cụ Trần Trọng Kim đã cho chúng ta có ảo tưởng là lịch sử dân Việt bắt đầu từ nhà Đinh, trước đó là huyền sử nên tổ tiên dễ nói dóc.
Cụ nêu lên rằng 18 đời Hùng Vương trị vì 2.600 năm vậy thì tính ra mỗi ông vua phải thọ 150 tuổi, do đó phải xét lại. Cụ mới chỉ nêu lên nghi vấn mà đám Tây học hậu sinh chúng ta lại cậy khôn, dám ti-toe đem ngay tam đoạn luận ra để biện minh và sỉ vả không tiếc lời các nhà viết sử từ đời nhà Trần đến nay (trong đó có ông Trần Hưng Đạo, ông Nguyễn Trãi và nhiều người khác) là nói phét, nói dóc!!!.

Nói như vậy là chúng ta đã mặc nhiên phỉ báng tổ tông và coi như mình mới là người có can đảm dám nói lên sự thật. Trong khi đó quên rằng chính thế hệ chúng ta đã làm mất nước, chỉ vì đã hấp thụ nền văn hóa nô dịch để chối bỏ cội nguồn, tôn thờ ngoại bang mà không biết.
Nếu đặt lại vấn đề thì chúng ta thấy ngay đó là lời nói hàm hồ của đám hậu sinh đã làm mất nước, chỉ vì hấp thụ nền văn hóa nô dịch của kẻ thống trị mà không hay:
1)- Tuổi thọ của con người không dính chi đến tuổi đời của ông vua cả. Vì xưa hay nay thì cũng sinh con ở tuổi 20. Vậy thì, nếu vua cha có thọ đến 150 tuổi đi nữa thì lúc đó vua con cũng đã 130 tuổi rồi. Vậy trung bình tuổi đời của một ông vua chỉ có 20 năm thôi.

2)- Ngôn từ thay đổi theo thời đại, vậy thì chữ đời có phải là đời một ông vua hay đời một thể chế? Ta vẫn gọi đời nhà Lý, đời nhà Trần, đời nhà Lê; mỗi đời đâu có phải chỉ có một ông vua?

3)- Nếu chữ đời chỉ Triều Đại thì chữ Hùng Vương bắt buộc phải là danh xưng của chức vụ. Vậy thì phải là 18 dòng họ khác nhau.
Rõ ràng sử chép: Họ Hồng Bàng làm vua nước ta trước tiên cả, sau cùng lại chép là bà Trưng dòng dõi vua Hùng thứ 18. Rõ ràng dòng họ khác đó thôi.

Chúng ta vẫn nói chúng ta là con Rồng cháu Tiên mà không hề suy nghĩ xem đúng hay sai. Có bao giờ chúng ta nói con Tiên cháu Rồng không? Chắc chắn là không, vậy thì chữ con Rồng cháu Tiên đã nói rõ về huyết thống là con ruột của mẹ Rồng và cháu nội của bà Tiên rồi còn gì nửa.
Rõ ràng sử chép rành rành là: Mẹ ông Lạc Long Quân là Rồng và bà nội ông là Tiên. Vậy thì chữ con Rồng cháu Tiên là chỉ ông Lạc Long Quân (tức thần Kim Quy) đã hấp thụ được tinh anh của Rồng và Tiên (trí dũng vẹn toàn) chứ đâu phải chúng ta. Chúng ta thuộc dòng dõi Rồng Tiên.
• Nay đọc THÔNG ĐIỆP người xưa mà không hiểu là lỗi ở chúng ta không chịu động não, chứ đâu có phải người xưa nói không rõ.

Một ghi nhận nữa: Rồng là con đực. Rồng cái của Tàu là con Phụng; còn Rồng cái của Việt là Tiên. Chỉ có chuyện này, vì nhu cầu pha giống nên mới có Long Nữ (cô gái Rồng). Vậy thì nhân vật Đế Minh, Lộc Tục (Kinh Dương Vương), Sùng Lãm (Lạc Long Quân) và Âu Cơ đều là những nhân vật giả tưởng để người xưa ký thác thông điệp về thành quả đấu tranh đã có thực trong lịch sử, ở thời đó.
• Vứt bỏ thông điệp loại này là vứt vàng và hột soàn vào đống bùn nên vận tốc tụt hậu cứ gia tăng theo thời gian. Như vậy thì làm sao tránh được hiểm họa diệt vong?

Áp dụng khoa học ngày nay vào câu chuyện này:
a)- Nay rút máy computeur ra coi thì thấy: Từ đời nhà Đinh đến hết đời Bảo Đại là 1.000 năm gồm có 7 Triều Đại Hùng Vương. Vậy thì 18 đời Hùng Vương trị vị 2.600 năm là một thời gian hợp lý chứ có chi là quá đáng đâu mà phải thắc mắc. Chẳng qua vì mắc phải tinh thần tự ti và vọng ngoại, cho nên ông Tây bà Đầm, mũi lõ mắt xanh, ngực banh đít vểnh nói câu nào thì cho ngay đó là nguyên lý. Còn người Việt nói có đúng mười mươi cũng chê là nói mò, nói dóc, nói phét.

b)- Thời đại phi thuyền đã chứng minh cái dốt của các nhà Bác Học Tây Phương, vậy thì đừng quá tin vào khoa bảng. Chúng ta hãy suy ngẫm sự kiện sau đây:
• Trước năm 1968 tất cả các sách giáo khoa từ Đại học trở xuống, các ông bác học Tây Phương đều nhất trí đồng quan điểm là trái đất không thể tròn như quả bóng đá được. Ông thì bảo nó dẹp hai đầu như quả bưởi vì do sức ly tâm quay quanh trục. Ông thì bảo nó nhọn đầu như trái RUGBY vì sức hút ở 2 đầu lớn hơn đường xích đạo (équateur).
• Đến Noël 1968 loài người lên mặt trăng chụp ảnh trái đất thì thấy màu sắc rực rỡ và tròn xoe như quả bóng đá. Từ đó đến nay không thấy ông nào giải thích là tại sao nó quay mà sức ly tâm không làm cho nó méo? Tại sao nó tròn mà sức hút mỗi nơi mỗi khác? Như vậy có phải là căn bản lý luận của các nhà Bác Học Tây phương sai không? Vậy thì chớ có lấy khoa học thực dụng mà giải thích cho khoa học Nhân văn. Cũng chớ lấy thực tế vật chất để giải thích cho địa hạt tâm linh. Cũng chớ lấy lời nói của các nhà khoa bảng ngoại quốc làm chân lý tuyệt đối.

Vật chất thì hoàn toàn thuộc về hữu hình, nên dựa theo cảm giác của ngũ giác: Tai, Mũi, Mắt, Lưỡi và Tay. Nhận được thì nói là có, còn không nhận được thì nói là không biết có hay không.

Còn Tâm Linh thì thuộc về vô hình, vậy thì làm sao có thể dùng hữu hình để luận vô hình được?

Các vĩ nhân thường hay nói: Duy Vật, Duy Linh, Duy Tâm, Duy….để sự nghiên cứu về xã hội học của họ cho được dễ dàng. Còn tổ tiên chúng ta thì nói trong cuộc sống mỗi thứ có một ít chứ chẳng duy một cái chi ráo trọi. Bằng cớ là câu tục ngữ bất diệt:
Nhất sĩ nhì Nông.
Hết gạo chạy rông, nhất Nông nhì Sĩ.

Duy có nghiã là chỉ có, hoặc cái đó làm chủ, còn cái khác là phụ. Xã hội Văn Lang lấy Nhân Chủ và Nhân Bản làm nền móng cho mọi triết lý sống của con người. Còn xã hội Tàu thì lấy Triều Đình làm chính. Chỉ vì họ thoát thân từ cuộc sống du mục nay đây mai đó, còn người Việt thì thoát ra từ đời sống định cư và định canh trong việc trồng lúa nước (lúa chiêm).

Chữ Nhân Chủ có nghiã là có con người thì có tất cả: Chính Trị, Kinh Tế, Xã Hội, Luật Lệ…., còn không có con người thì chẳng có cái chi ráo trọi.
Còn Nhân Bản là lấy hạnh phúc của từng người dân làm căn bản. Dân đói rách lầm than, tương lai mờ mịt thì Triều Đình phải tự động ra đi vì bất lực. Coi chuyện Tiết Liêu, Phù Đổng, Hoàn Kiếm….Coi bài Bình Ngô Đại Cáo, ngay trong câu đầu linh hồn Kháng Chiếnlam Sơn đã viết: Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân. (Hạnh phúc của dân làm trọng)
————————————–
Tài liệu tham khảo:
Hỏi mua ở Hội Ái Hữu Việt Kiều vùng Bắc Paris, địa chỉ:
Amicale des Vietnamiens de Sarcelles c/o M.J.C.
10 avenue Paul Valéry – 95200 SARCELLES (FRANCE)
Ban Tế Tự ấn hành:
-(1) Rồng Tiên Khai Quốc (1989): 25 fr. (4 Mỹ Kim)
-(2) Ngày Giỗ Tổ và Hướng đi của chúng ta ngày hôm nay (2001): 25fr. (4 Mỹ Kim)
-(3) Ngày dựng nước Văn Lang và văn minh dân Việt qua các Triều đại: 30 Fr. (5 Mỹ Kim)
-(4) 1000 năm nô lệ Tàu…. Ai đã đầu độc tư tưởng của chúng ta?: 40fr. (6 Mỹ Kim)
Ban Giảng Huấn Việt Tộc ấn hành:
-(5) Đạo sống của dân Việt (2001) : 25 fr. (4 Mỹ Kim)
-(6) Quy luật âm vận của tiếng Việt, cách viết chữ Quốc-Ngữ (2000): 25 Fr. (4 Mỹ Kim)
-(7) Lá cờ Quẻ càn (3sọc), Yếu tố kết hợp (1998): 20 Fr. (3 Mỹ Kim)
Lớp Văn Hóa Việt của Hội SARCELLES (Paris)
-(8) 9 bài học về đặc thù dân Việt (2001): 40 Fr. (7 Mỹ Kim)
Nhà ái quốc Phan Bội Châu
-(9) Hịch Đề tỉnh quốc dân hồn: 12 fr. (2 Mỹ Kim)
-(10) Việt Nam Vong Quốc Sử: 40 fr. (7 Mỹ Kim)
——————————————-

Nguồn gốc Văn Lang

Con người đầu tiên xuất hiện trên trái đất vào khoảng 2 triệu năm nay. Vì da không có lông ấm nên chỉ sống được ở xứ nóng. Lúc đầu xuất hiện tại Phi Châu, vùng KENYA và TANZANIE ngày hôm nay (phía tây nam SOMALIE). Sinh sống bằng lượm trái cây và bắt tôm cá mắc cạn. Ngủ trên ngọn cây để tránh hùm beo, rắn rết. Sinh sống bằng khả năng trời cho như những sinh vật khác. Coi hình số 14.

Vì muốn cải thiện đời sống nên tìm cách dùng lửa. Lửa phát sinh ở thời đại đá ghè (đá chẻ), tức lấy 2 hòn đá ghè vào nhau cho vừa đủ cầm trong lòng bàn tay để ném các con vật như thỏ, gà. Lúc ghè thì lửa tóe ra bắt vào lá khô bốc cháy.
Lúc đầu dùng lửa để thui thú vật cho lâu thúi, chứ không phải để ăn cho ngon như ngày hôm nay. Lúc đó ăn sống nuốt tươi có mùi vị đậm đà hơn là ăn đồ nướng khô cứng.
Về sau nung đất làm đồ gốm để luộc tôm, cá…khi đói thì luộc lúa húp cháo, luộc khoai sắn để ăn. Vì thấy lúa, khoai, sắn thuộc loại lương khô để lâu không hư; do đó phát minh ra nghề nông. Lúa ăn rách mép, nên tìm cách chà vỏ thành gạo để nấu cơm ăn ngon hơn là húp cháo.

Vì trồng trọt phải theo mùa nên đẻ ra khoa ngắm sao để định mùa. Sau cùng đẻ ra loại Lịch Tinh Tú, nay ta gọi là Việt Lịch. Tên gọi lúc đầu là Miêu Lịch, Miêu có nghĩa là Mễ, ngũ cốc thuộc nghề nông. Coi Việt Lịch,Giáo Khoa Việt Tộc cấp 3, số 13.
Sở dĩ biết được tiến trình sinh sống của người xưa là nhờ khoa khảo cổ về nghề đồ gốm là dụng cụ nấu ăn đầu tiên để thoát ra khỏi cảnh tù túng của khả năng trời cho. Dụng cụ này được vứt ra bãi rác sau khi phế thải, nay tìm thấy thì: Thoạt đầu nặn bằng tay, nung ngoài trời. Sau đưa lên bàn xoa nung trong lò. Mới đầu thì mộc mạc, sau tráng men, sau đó có kiểu vân thừng, nan cót, vẽ hình……ngày nay chúng ta vẫn dùng bát đĩa bằng đất nung, nhưng kiểu cách thay đổi tùy nơi và tùy lúc. Nhờ đó mà người ta suy ra được nếp sống của các thời kỳ đó.
 Tỷ dụ gốm vân thừng là lúc đó đã biết kết rễ cây làm giây thừng để trói thú. Thấy con bò đang ngủ cạnh gốc cây thì lấy giây cột vào cây, sau đó đưa thòng lọng vào chân bò rồi xiết lại. Thế là chú bò bị cột chân, chừng nào cần thì ngả thịt, ăn chưa hết thì nướng để dành.

Khi tinh khôn hơn thì ngủ trong hang. Tiến thêm một bước dài là tự tạo ra lương thực để bảo đảm cuộc sống bằng cách khoanh vùng nuôi thú, khi thuần thì biến thành gia súc nay ta gọi là nghề Du Mục, tức nuôi thú theo cánh đồng cỏ. Nghề này phát xuất từ IRAN. Nhóm này từ Phi Châu tiến lên phía Bắc, lúc đầu sống bằng nghề săn thú. Ðây là lúc có cuộc sống Quần Cư nhưng Du Cư. Vì thế nó tạo ra tư tưởng Luật Rừng: Trọng Nam khinh Nữ. Trọng phú khinh bần với thể chế: Ðất của Chúa, Lúa của Trời.

Còn nhóm khác men theo biển để bắt tôm, cá mắc cạn. Nhóm này di sang phía Ðông, xuống Nam Dương Quần Ðảo rồi vòng lên Phi Luật Tân. Lúc này Việt Nam, Nam Dương Quần Ðảo và Phi Luật Tân là đất liền, phủ đầy băng tuyết không sống được.
Về sau nhóm này biết cách canh tác, trồng trọt để bảo đảm lương thực và sống bằng nghề Nông. Cầy cấy thì phải sống nơi có nước là ven sông. Ruộng vườn không di được nên phải lập làng, có cuộc sống Quân Cư và Ðịnh Cư. Cách sống này tạo ra đầu óc Nhân Bản, phân chia công tác tùy theo khả năng của mỗi người. Kẻ thù của họ là Thiên Nhiên chứ không phải con người như nếp sống Du Mục. Lúc đầu sống trong một khu đất được bảo vệ an ninh bằng hàng rào bao quanh mỗi bề dài là một lý (1,6km) nên gọi là cái Lý, có ông Lý Trưởng để trông nom công việc của cộng đồng.

Khi lập nước Văn Lang (2.879BC), vì nhu cầu hành chánh nên Lý, Buôn, Bản, Sóc …đều gọi chung là Làng cho tiện. Nhưng danh xưng của vị đại diện thì vẫn giữ nguyên như cũ; vì vậy không có ông Làng Trưởng mà lại có ông Lý Trưởng.
 Nay chúng ta còn dùng danh từ xã-hội để chỉ việc nước. Danh từ này cho ta suy ra rằng: Nước Việt được thành lập bằng sự kết hợp của các làng (xã là làng, hội là kết hợp).
 Câu: Lệnh Vua còn thua Lệ Làng nói lên chế độ Dân Chủ Phân Quyền của nước Văn Lang; nay tây phương gọi là xã hội Dân Sự, tức trong xã hội có những tổ chức ngoài luồng không chịu sự chi phối của chánh quyền.

Khoa khảo cổ cho biết là nghề nông phát xuất từ cuộc sống quần cư và định cư ở ven biển Ðông (tức từ Nam Dương Quần Ðảo vòng lên bờ biển Phi Luật Tân). Nghề này có cách đây 15.000 năm (13.000 năm Before Christ). Lúc này nước biển thấp hơn ngày hôm nay là 130,5 mètres. Nước Việt dính liền với Phi Luật Tân và Nam Dương Quần Ðảo. Giữa Phi Luật Tân và IRAN phủ đầy tuyết, không có sự sống.

Từ 15.000 năm cho đến 8.000 năm trước đây, bàu không khí trở nên nóng, tuyết tan nên mực nước dâng cao dần lên đến 10,3 mètres hơn mực nước ngày hôm nay. Trung bình mỗi năm dâng cao 2cm. Dân sống ven biển phải lui dần lên chỗ cao: Tây Tạng,
dãy núi Hy Mã Lạp Sơn, dãy núi Trường Sơn để sống. Dân cư sinh sống trong vùng này bằng nghề Nông nên gọi là Miêu Tộc gồm có dân Ngô, Sở, Việt, Chàm và Khmer.

Sau đó nước rút dần, vì khí quyển lạnh trở lại cho đến khoảng 6.000 năm trước đây thì ngưng ở mực nước hiện tại. Lúc này cư dân lần theo sông trở ra biển để trồng trọt.
Họ theo 3 con sống lớn là Hoàng Hà (qua Bắc Kinh), Dương Từ (qua Thượng Hải), Tây Giang (qua Hương Cảng), Hồng Hà (qua Hà Nội), sông Mã (qua Thanh Hóa), sông Cửu Long (qua Lào, Campuchia và đồng bằng Nam Việt).

Thời đó chưa có giấy bút nên mọi kinh nghiệm truyền lại cho hậu thế đều phải để bằng bia miệng, huyền thoại hóa sự thật lịch sử để ai ai cũng muốn nghe và cũng muốn kể lại; hoặc qua những câu hò tiếng hát, thơ vần, ca dao, tục ngữ. Ðó là di sản rất quý để chúng ta tìm hiểu người xưa.

Thời đó, khi đánh nhau để xí phần quản trị đất đai thì người xưa huyền thoại hóa cuộc trở về quê cũ làm ăn bằng Ðế Nghi và Lộc Tục. Coi hình số 12
• Con cháu Ðế Nghi là nhóm trở về bằng Hoàng Hà qua Bắc Kinh.
• Con cháu Lộc Tục gồm nước Ngô, nước Sở và nước Việt được gọi là Miêu Tộc (Miêu là Mễ, ngũ cốc, tức dân nông nghiệp) và dân Chàm, KHMER. Chàm và KHMER không nằm trong sư tranh chấp nên không lập quốc do đó không có trong huyền thoại Ðế Minh. Khi lập quốc thì phải thành lập Binh Ðội để tự vệ hay để xâm lăng. Nước Chàm lập vào năm 40 sau T.L., nước KHMER (Chân Lạp) lập vào thế kỷ thứ 6 để chống Ðế Quốc Chàm. Cuối thế kỷ thứ 8, lợi dụng nước Ta bị nhà Ðường thống trị, dân Chàm tiến đánh 2 châu Ô và châu Lý (Quảng Trị, Thừa Thiên). Vì gây hấn quá đà nên nước Chàm bị hội nhập vào nước Việt dưới thời vua Lê Thánh Tôn. Hiện nay người Việt có nếp sống pha trộn văn hóa Chàm như: Mặc quần thay cho váy, để răng trắng không nhuộm răng đen, hỏa thiêu người chết thay cho chôn cất mất vệ sinh; và người Chàm cũng sống pha trộn văn hóa Việt như bỏ tục lệ thiêu sống Cung Phi (vợ vua)

Ở thời điểm 5.000 năm về trước thì biên giới thiên nhiên là sông rộng và sâu, núi rừng âm u hiểm trở, biển cả bao la.

Khi trở về quê cũ lập nghiệp thì người Ngô lập binh đội để xâm lăng các dân tộc ở phương nam; vì miền bắc quá lạnh và chẳng bõ đi ăn cướp. Thế là con cháu Lộc Tục đánh nhau.
Cương vực nước Ngô được bao bọc bởi sông Dương Tử và sông Tây Giang, theo thể chế Quân Chủ chuyên chế: Ðất của Chúa, lúa của Trời. Ðẻ ra học thuyết Thiên Tử để tự cho mình cái quyền dạy dỗ thiên hạ.
Vì chống xâm lăng nên phải lập quốc để tự vệ. Khi lập quốc thì phải lập binh đội, phải đẻ ra học thuyết để kéo chánh nghĩa về mình. Do đó nước Sở và nước Việt phải lập quốc để tự vệ.
Cương vực nước Sở thuộc vùng Tứ Xuyên ngày hôm nay, theo thể chế Quân Chủ Ðại Nghị với học thuyết Vô Vi được Lão Tử viết lại cho rõ ràng.

Cương vực nước Văn Lang của Liên Bang Việt gồm 15 tiểu bang (lúc đó gọi là Bộ Lạc, tức vùng An Lạc; muốn có an lạc thì phải lập quốc) từ sông Tây Giang đến tận đèo Hải Vân (lúc đó gọi là Ải Vân) theo chế độ Dân Chủ Phân Quyền, từa tựa giống tổ chức của nước Mỹ, ngày hôm nay. Chỉ khác một điều là nhiệm vụ vua Hùng (Tổng Thống Hoa Kỳ) là lo chu toàn kết hợp 15 tiểu bang đó thành một khối thuần nhất, thời gian cần phải có là 2.629 năm trong 18 Triều Ðại Vua Hùng (ta gọi là 18 đời vua Hùng, đời là tiếng Việt còn Ðại là tiếng Tàu)

 Chữ Việt có nghĩa là Cầu Tiến: Cố gắng VƯỢT qua mọi trở ngại để thăng tiến cùng người.
 Chữ Văn Lang có nghĩa là Tự Trọng. Lang là con người Hào-hoa Phong-nhã, Phóng-khoáng Hào-hiệp, Lịch-sự Bặt-thiệp.

Học thuyết Tự Vệ của dân Việt được truyền lại bằng chuyện Lạc Long, Âu Cơ nói lên 20 năm nằm gai nếm mật của Lãnh Vương vùng Lạc Việt (Quảng Ðông ngày hôm nay) để biến nước Ngô thành 3 vùng của nước Văn Lang là: Ngô-Việt (Chiết Giang), Mân Việt (Phúc Kiến) và Bách Việt (Hồ Nam). Thông điệp ký thác trên trống đồng 14 tia và Học Thuyết Rồng Tiên là:

1. Xây dựng con người: Tự-lực, Tự-cường, Tự-trọng, Cầu-tiến.
2. Xây dựng xã hội: Kết hợp với nhau bằng Tâm, cư xử với nhau bằng Ðức. Bình đẳng tột cùng, thân thương tột độ.
3. Quy luật đấu tranh: Ðòi lại những gì đã mất. Cương quyết tiêu diệt kẻ thù nhưng không những không truy kích hay trả thù trong khi đấu tranh, mà còn phải độ lượng và khoan dung với kẻ thù sau khi chiến thắng.
4. Bửu bối thoát vòng nô lệ: Gọi Bố về cứu là ẩn dụ: Hãy sử dụng sức mạnh Tâm Linh (tim và óc) chưa dùng tới bằng cách ôn lại Văn Hóa và Học Thuyết đấu tranh của tổ tiên để lại.
 Coi thêm Học Thuyết Rồng Tiên Khai Quốc: Ấn phẩm Văn Lang, số kỷ niệm 200 năm chiến thắng Ðống Ða (1789-1989)

Vì thành lập Liên Bang Việt nên 15 tiểu bang phải tự cho mình một cái tên trong đó có chữ Việt như: Lạc Việt, Âu Việt, U Việt, Việt Ðiền ……Việt Thường. Việt có nghĩa là tinh thần Cầu-tiến.
Chữ Giao Chỉ là hỗn danh của Mã Viện để chỉ người dân có 2 ngón Chân Cái giao nhau (toẽ ra 45°). Ðây là hiện tượng vẹo xương. Lúc sinh ra thì họ cũng như mọi người, nhưng vì sống trên đất thịt và đất sét nên phải bấu 10 ngón chân xuống đất cho khỏi té. Lâu dần xương bị vẹo đi, ngón cái bị vẹo nhiều nhất.

Hết thời kỳ xây dựng Liên Bang thành một quốc gia mang tên là Văn Lang với chủng tộc Việt, theo thể chế Dân Chủ Phân Quyền, lệnh vua còn thua lệ làng…..là thời Thục An Dương Vương với chế độ Quân Chủ Chuyên Chế, quốc hiệu là Âu Lạc. Có nghĩa là dân Văn Lang từ nay bị cai trị bởi dân Âu Việt (Quảng Tây, gốc của Thục Phán) được trợ tá bởi dân Lạc Việt (Quảng Ðông của Triệu Ðà, khi trước của Câu Tiễn). Trong hình 12 thì Quảng Tây lấy đất của Quảng Ðông để có biển. Ta gọi là Lưỡng Quảng, nhưng Tàu gọi là Lưỡng Việt (Âu và Lạc)

Từ Thục An Dương Vương (257BC) trở đi là thời kỳ giữ nước, hàng năm vẫn có ngày Quốc Tổ để hội thảo phương cách giữ nước của Tổ.
 Ngày Quốc Tổ đầu tiên là ngày mồng 10 tháng 3 Việt Lịch (chứ không phải Âm lịch hay Dương lịch) vào năm 250BC.

LỊCH SỬ NƯỚC TÀU
Nước Tàu là nước ở phía Bắc nước Văn Lang (Việt chứ không phải Việt Nam).
Vào khoảng năm 1930 chữ tầu mang chữ Â dùng để chỉ phương tiện chuyên-chở chạy bằng máy do người sáng tạo ra. Tầu thủy chỉ có sau năm 1802, còn thuyền thì có từ trên 10.000 năm nay. Người Tàu, nước Tàu là danh từ dưới thời Triệu Đà vào năm 183 trước thiên chúa để đối kháng với danh từ Trung Hoa (trung tâm tinh hoa của vũ-trụ) do Lã Hậu đặt ra để gây chiến và sát hại quần-thần đối-lập vì bà ta cướp quyền của con sau khi Lưu Bang chết. Do đó mới đẻ ra danh từ Nam Di, Tây Quỷ, Bắc Rợ; tức là chỉ có bả là con trời nên mới ở đất Trung Nguyên: Nơi tinh hoa của vũ trụ. Không hiểu vì lý do gì mà nay viết lộn ngược để lẫn 2 chữ với nhau.Theo tiếng Việt, chữ Tàu là thằng ngố, vợ thằng ngố là con lòa (mụ Xẩm) xâm-xẩm tối nhìn không rõ. Thời nhà Chu không có danh từ Nam Di, Bắc Rợ, Tây Quỷ; chỉ thấy nói là người Việt phương Nam đem biếu mu rùa, chim trĩ. Người Tàu là hậu duệ của dân du-mục từ Trung Đông di qua thuộc nhiều sắc dân, trong đó tuyệt nhiên không có dân HÁN. Hán là Triều Đại do Lưu Bang đẻ ra vào năm 203 trước Tây Lịch vì nhu-cầu chánh-trị của ông ta. Đáng lý miếu hiệu phải là Lưu Thái Tổ chứ không thể là Hán Cao Tổ được. Ông cải danh thành họ Hán là vì chức Hán Vương do Hạng Võ phong được nhiều người biết đến, còn họ Lưu thì mất thớ. Ngoài ra ông dành chữ Thái để tôn bố ông khi làm lễ Hiếu để nhớ ơn cha là do chính ông đặt ra để tự đề cao gia đình nhà mình.Vào 5.500 năm trước đây thì vùng đất này thuộc dân Nông Nghiệp; Miêu tộc. Miêu có nghĩa là Mễ (ngũ cốc), người Tàu phát âm thành MAN; người Việt chuyển âm thành MÁN. Vì người Ngô gây hấn nên nước Sở và nước Việt phải lập binh-đội để tự-vệ. Học-thuyết lập quốc của dân Việt là Rồng Tiên (tự-vệ), của dân Sở là Vô-Vi (tự-vệ), của dân Ngô là Thiên Tử (xâm lăng). Lúc này người Tàu chưa có, nước Tàu cũng không. Đồng bằng Bắc Việt và Nam Việt cũng chưa có (sẽ nói sau). Nước Chàm thành lập vào năm 43 sau thiên chúa; nước Thủy Chân Lạp (Cambodia) thành lập vào thế kỷ thứ 6 sau thiên chúa với những lý do và nhu-cầu khác nhau (chưa bàn ở đây).
 Cương vực nước Ngô là Chiết Giang, Phúc Kiến, Giang Tây và Hồ Nam ngày hôm nay. Tức ở giữa sông Dương Tử (Thượng Hải) và sông Tây Giang (Hương Cảng), phía Tây giáp ranh với dãy núi Hoài (Hồ Động Đình). Lý do nào đã thúc đẩy nước Ngô tiến về phương Nam và phương Tây mà không tiến lên phương Bắc sẽ nói trong dịp khác (sự bành trướng của dân du-mục) (b20;b24).
 Cương vực của nước Việt (gồm 15 tiểu bang) là từ phía Nam sông Tây Giang đến tận đèo Hải Vân ngày hôm nay; khi trước gọi là Ải Vân, tức cửa ải luôn luôn có mây bao trùm. Phía Tây đến tận sông Cửu Long. Quốc hiệu Văn Lang, thể chế Dân Chủ Phân Quyền: Lệnh vua còn thua lệ làng (§ b13, b24)
 Cương vực nước Sở từ dãy núi Hoài đến cao nguyên Tây Tạng (§b13;b18)
• Lịch (xin coi bài Việt Lịch): Dân nông-nghiệp theo lịch nhà nông tính theo Sao.
Dân du-mục tính theo Trăng. Người Tây Phương tính theo Mặt Trời.
• Cách tính năm:Tuy cách tính khác nhau nhưng ai ai cũng lấy năm làm đơn vị,dù điểm mốc là cuối năm cũng tính đó là năm Thứ Nhất (không có năm thứ Zéro).
Dân Việt tính từ ngày lập nước Văn Lang. Dân du-mục tính theo Triều Đại, ngày làm lễ đăng-quang. Dân Tây Phương tính theo ngày sanh của Jésus-Christ
1.700(?)-1.500 (BC)….Nhà Hạ (XIA) chưa có tổ chức xã-hội. Địa bàn: Lưu vực
sông Hoàng Hà, mạnh ai nấy sống giữa du-mục và nông nghiệp tại chỗ. Nhà Hạ là dân du-mục từ Trung Đông di tới.
1.500-1.122 (BC) Nhà Thương (SHANG-lưu vực Hoàng Hà): từ Trung Đông tới, chung sống hòa bình với dân nông nghiệp tại chỗ (Hậu duệ Đế Nghi-huyền sử,§b24). Mãi tận 200 sau mới tổ chức thành nước.Thời điểm phát sinh ra chữ Tượng Hình và Tượng Ý.
1.122-771 (BC) Nhà Tây Chu (ZHOU de l’OUEST): Diệt Thương, đốt sách;
con cháu nhà Thương phải qua Mỹ bằng ngả ALASKA, tức dân da Đỏ. Chia làm 2 giai cấp: Thống trị (dân du-mục từ Trung Đông di tới) và Bị-trị là dân nông nghiệp tại chỗ. Đẻ ra chế độ Phong Kiến để chia nhau mà cai-trị theo luật của mình Nhìn (kiến) trên bản đồ rồi phong cho vùng tự trị.
771-481 (BC) Nhà Đông Chu thời Xuân Thu (Printemps) (§b13).
481-221 (BC) Nhà Đông Chu thời Chiến Quốc, 7 nước đánh nhau.
221-208 (BC) Nhà Tần (QIN):Tần Thuỷ Hoàng (Hàm Dương), cùng thời với:
 Thục Phán (Việt) (§b21)
 Nhâm Ngao-Triệu Đà (người Việt gốc Ngô)-Kháng chiến
208-207 (BC) Hạng Võ giải-phóng nước Sở tiến vào Hàm Dương, cùng thời
với: Triệu Đà dứt Thục Phán đặt quốc hiệu là Nam Việt.: Phía Nam sông Dương Tử là của người Việt (chưa có Hán).
206-203 (BC) Lưu Bang dấy nghiệp, thâu tóm đất nhà CHU (ZHOU); sau
khi Hạng Võ bỏ đất Tần lui binh về Sở (§b15).
203-185 (BC) Lưu Bang diệt Sở lập lên nhà Tây Hán; rồi xin hiệp thương
với Triệu Đà. Chấp nhận phân ranh Bắc Hán, Nam Việt. Hai bên giao-hảo để phát triển kinh tế (§b21, kinh đô: Tràng An).
185-*183 (BC) Lưu Bang chết, Lã Hậu (vợ Lưu Bang) cướp ngôi, nhốt con
vào tù, đánh chiếm Tràng Sa (Hồ Nam) của Triệu Đà (§b21)
*182-181 (BC) Triệu Đà phản công, Lã Hậu tái chiếm nhưng thất bại (§b20)
*180-111 (BC) Triều thần giết Lã Hậu, phục chức Thái Tử; Thái Tử xin lập
lại bang giao với Triệu Đà; phát-triển kinh-tế.
*111(BC)-30(AC) Mãng Vương cướp quyền vì Tây Hán đem binh đi diệt nhà
Triệu, tiến đánh nuớc Nam.Quân viễn-chinh kéo về. Hai bên giao tranh trong suốt 141 năm . Giao Châu độc lập.
**30-222 (AC) Đông Hán lấy lại quyền lực, di đô sang phía Đông (Lạc Dương)
Năm 39 sai Tô Định sang đánh nước Việt bị thua, bèn cử Mã Viện sang phục thù (§b21, kinh đô:Lạc Dương)
222-265 Tam Quốc: Nước Tàu chia 3 thành thế chân vạc. Nước Ta
thoát ra, đó là thời Sỹ Vương, người Âu Việt (Quảng Tây).
Giao Châu (Bắc Việt ngày nay) là đất bình yên cho nhân tài đến tỵ nạn binh đao triền miên trên lục địa nướcTàu.
265-420 Nhà Tấn: Lực lượng mạnh nhưng chưa đủ để cai-trị toàn cõi.
420-589 Nam Triều (7 vùng độc-lập); Bắc Triều (6 vùng độc-lập)
589-600 Nhà Tùy (SUI) có 11 năm mà bắt dân đào kinh, du thuyền đi
từ Tianjin (Đông Nam Bắc Kinh) đến Rongyan, Thượng Hải, cuối cùng là Hàng Châu (§b16)
600-608 Đại Loạn, chiến tranh triền miên (b18;b19)
608-907 Nhà Đường (TANG). Giặc Cao Biền tạm chiếm vùng ven biên
đến tận Thanh Hóa. Từ Thanh Hóa vào đèo Hải Vân là chiến khu Lâm Ấp thuộc lãnh vực Việt Thường. Quân Lâm Ấp và quân Nam Chiếu (tức U Việt thuộc Vân Nam) thường đem quân về giải cứu; vì thế quân Tàu phải rút về đồn khi tối đến (§b17).
907-959 Ngũ Đại (hay Ngũ Quý) đánh nhau không ngừng ở vùng ven biển Quảng Đông: Ngô (WU); Ngô-Việt (WU YUE); Sở (CHU) và Nam HÁN (HAN DU SUD).Bên ta: Thời ông Dương Diên Nghệ; Ngô Quyền – Đinh Tiên Hoàng. (b18;b23)
907-1.125 Trong thời Ngũ Đại thì ở phía Bắc sông Hoàng Hà là nhà LƯƠNG (Empire des LIAO) và nhà HÀN CHU (Empire des XIXIA. Phía Tây ở đầu nguồn: HOÀNG HÀ; DƯƠNG TỬ GIANG và TÂY GIANG thuộc OUÏGOURS HUANG TOU và Vương Quốc Thục (Rouyame TUBO) (b19)
959-1.278 Phía Nam sông Dương Tử thì nhà Tống (SONG) dẹp phân tranh, lập lại uy-quyền; tính xâm lăng Giao Chỉ thì bị Lý Thường Kiệt tiến đánh châu Ung và châu Liêm (Lưỡng Quảng)
1.278-1.341 Nô lệ: Nhà Nguyên (Mông Cổ) sang chiếm đặt nền Đô-Hộ.
1.341-1.368 Đại Loạn, quân hồi vô lệnh. Giặc cướp tứ tung.
1.368-1.628 Nhà Minh (người Ngô) nắm quyền. Bên ta là nhà Hồ-nhà Lê
1.628-1.911 Tái nô: Nhà Thanh (Mãn Thanh) thống-trị. Bên ta là Trịnh Nguyễn phân tranh, Tây Sơn thống-nhất; rồi Gia Long mời Tây qua để Đô-Hộ dân ta.
1.911-1.930 Cách mạng Tam Dân của Tôn Dật Tiên chống Nhật.
 Bên ta: nô-lệ Pháp.
1.930-1.949 Tôn Văn chết; đảng chia đôi Quốc (Tưởng) Cộng (Mao).
 Bên ta:
 09/3/1945: Nhật bắt Tây bỏ tù, trao trả độc lập cho ta. (Chánh Phủ Trần trọng Kim, cờ Quẻ Ly).
 02/9/1945: Việt Minh cướp quyền trong tay chánh phủ Trần Trọng Kim chứ không phải trong tay thực dân Pháp hay Phát-xít Nhật.
 Việt Minh đem chiến tranh tới giết hại 2 triệu thanh niên nam và nữ, và 10 triệu người tàn phế của cả đôi bên.
 Dân Việt lãnh đủ hậu quả chơi ngông của “Bác Hồ”. Hậu quả: Tụt hậu và đợi ngày tiêu vong!!
1.949-2009 Mao đánh chiếm lục-địa, Tưởng chạy qua đảo Đài Loan .
Thắng bại thì đợi hạ hồi phân giải. Đài Loan là một đảo độc lập, bị Nhật chiếm đóng trong đệ nhị Thế Chiến; sau đó trả cho Mỹ….rồi Mỹ trao lại cho Tàu Tưởng vào năm 1949.
Nguồn gốc các bản đồ và sử liệu : Cương vực nhà Hán (Pékin vẽ năm 1997), La Gloire des Empereurs (Tàu viết năm 2001), Sử Trần Trọng Kim (viết trong thời nô lệ Pháp) và ông Đặng Vũ Nhuế tỵ nạn (Paris 1975-2002).

Phần 4: THỰC TẬP

Dành cho Thiếu Nhi:
• Kể lại chuyện rồng Tiên Khai Quốc
• Nói rõ đức tính của Rồng và Tiên*
• Hãy nói cảm tưởng của các em về dòng dõi dân Việt

Dành choThiếu Niên
• Nói rõ nghĩa của chư Đế Minh, Lộc Tục và Sùng Lãm.
• Nói rõ xuất xứ của câu chuyện này bắt nguồn từ đâu.
• Giải nghĩa chữ Văn Lang và Việt.
• Giải nghĩa triết lý của câu chuyện này.
• Đặc tínhcủa người Văn Lang là gì?
• Tại sao chúng ta lại tự gọi là người Việt?
• Thế nào là Đồng Bào?
• Tại sao ăn cơm phải mời nhau.
• Tại sao chúng ta lại xưng hô theo vai vế gia đình gồm 3 thế hệ liên tục?

Dành cho Tráng Niên
• Nói rõ cương vực và thể chế của nước Văn Lang
• Tại sao không có ông Làng Trưởng mà lại có ông Lý Trưởng?
• Nói rõ nguồn gốc và ý nghĩa của chữ Xã Hội.
• Hội luận để trao đổi ý kiến cho việc: Viết bài nhận xét của mình xem học thuyết dựng nước và giữ nước của Rồng Tiên có còn phù hợp với bối cảnh Toàn Cầu Hóa hay không? Sau đó tự đề ra học thuyết với mục đích sống hài hòa với xã hội tiếp cư và nhân loại.

Tóm lược cuộc sống của loài người

Trước Đại Hồng Thủy (20.00BC) thì người Homo Sapiens sống ở ven biển Đông (Mã-Lai; Nam-Dương và Phi-Luật-Tân). Lúc đó từ Trung Đông đến Á Châu tuyết phủ đầy, không sống được.
Sau trận Đại Hồng Thủy (6.000BC) thì di dân trở về quê cũ theo các triền sông lớn.

Người HOMO SAPIENS là dân nông nghiệp di từ phía Nam là Nam Dương Quần Đảo, và phía Đông là Phi Luật Tân lên Hy-Mã-Lạp Sơn (Tibet) và dãy Trường Sơn (Việt Nam) khi nước dâng cao trung bình mỗi năm là 2cm. Từ 15.000BC đến 8.000BC nước dâng cao cả thảy là 140,80 thước tây.

• 2 triệu năm về trước con người đầu tiên xuất hiện ở Phi Châu, vì da không có lông ấm nên không sống ở xứ lạnh được (xưng phổi). Về sau biết cách dùng lửa nên đi xa để kiếm ăn được. Vào khoảng 25.000 BC, vì nhu cầu sinh sống chia đi 2 ngả:

1. Một tiến lên IRAN và trụ ở đó, về sau trở thành dân du mục, tiếp tục theo đồng cỏ tiến lên phía Bắc, tới hết mer Caspienne vì quá lạnh nên chuyển sang phía Tây (Âu Châu) và phía Ðông. Nhánh phía Đông khi tới Mông-Cổ, Mãn Châu gặp biển nên tràn xuống phía Nam gặp dân nông nghiệp ở sông Hoàng Hà, đó là nhà Hạ (XIA), vào khoảng 1.700BC. Lúc này thì Du Mục và Nông Nghiệp tại chỗ sống hoang dã với nhau, vùng ai nấy sống (đồng cỏ hoang và ruộng có chủ)

2. Một men theo ven biển rồi sau trở thành dân Nông Nghiệp có cuộc sống quần cư và ổn cư. Đó là Miêu tộc (Miêu có nghĩa là Mễ, tức ngũ cốc)

• Chuyện Rồng Tiên kể lại trận đánh giữa Lạc Việt (Lãnh Vương Câu Tiễn) và Vua Ngô (Ngô Phù Sai); khoảng 600BC. Ðó là con cháu Lộc Tục đánh nhau. Vì thời đó bút giấy khó khăn nên ẩn dụ được lồng vào huyền thoại để truyền bằng bia miệng trận đánh này. Thông điệp ghi kế sách thoát hiểm này được ông Phạm Lãi, Văn Chủng soạn thành văn bản để truyển kinh nghiệm nằm gai nếm mật là:

1. Xây dựng con người: Tự Lực, Tự Cường, Tự Trọng, Cầu Tiến .
2. Xây dựng xã hội: Kết hợp với nhau bằng Tâm, Cư xử với nhau bằng Ðức. Bình đẳng tột cùng, thân thương tột độ (ẩn dụ 100 trứng 100 con = Đồng Bào).

3. Quy luật đấu tranh: Tự-vệ. Ðộ-lượng và Khoan-dung với kẻ thù sau khi chiến thắng.

4. Bửu bối thoát vòng Nô Lệ: Khai dụng sức mạnh Tim và Óc; đó là ẩn dụ của Bố Lạc Long: “Chừng nào giặc thù đến cướp phá, chống đỡ không nổi thì gọi Bố ơi về cứu chúng con”
——————————————-

BỜ CÕI nước VĂN LANG

 
2.879BC đến 600BC
 Lập quốc để chống quân NGÔ. Nước Văn Lang: NGÔ
Vân Nam, Quảng Tây (Âu Việt), Quảng Ðông
(Lạc Việt), Lào, Việt Nam tới đèo Ải Vân (Hải Vân)
Nước NGÔ: từ sông Dương Tử tới phía bắc sông VĂN
Tây Giang (Hongkong). Phía Tây bao gồm Hồ Nam LANG

600BC tới 300BC ———————— 600BC  0
Lãnh vương Câu Tiễn (Quảng Ðông) sát nhập nước
Ngô (của Phù Sai) vào nước Việt. Chia nước Ngô làm
3 Bang (Bộ Lạc): Mân Việt, Ngô Việt và Bách Việt
– Chuyện Lạc Long Âu Cơ là Học Thuyết căn bản VĂN LANG
của khoa Học Làm Người Việt ; nói lên 20 năm nằm & NGÔ
gai nếm mật của Câu Tiễn do Phạm Lãi, Văn Chủng
huyền thoại hóa bằng bia miệng (vì chưa có giấy)

300BC
300BC tới 257BC  • 0
Nước Văn Lang chia làm 3: Nội loạn. Hùng Nhâm
(Hùng Vương, Thục Phán và Nhâm Ngao+Triệu Ðà) Vương Ngao
– Nhâm Ngao chết, Triệu Ðà lên thay. Hai vị này Thục
là người Việt gốc Ngô bị Câu Tiễn sát nhập vào Việt. Phán
257 BC
257BC tới 207BC  • 0
Thục Phán dứt Hùng Vương đổi quốc hiệu thành
Âu Lạc, thay thể chế Dân chủ Phân Quyền thành ÂU
thể chế Quân Chủ Chuyên Chế, do Âu Việt lãnh đạo LẠC
– Ngày Quốc Tổ đầu tiên vào năm 250BC, năm thứ TRIỆU
7 quốc hiệu Âu Lạc, để ghi nhớ công đức của 18 triều ĐÀ
Hùng Vương đã hoàn chỉnh tiếng nói, văn hóa để hòa
đồng 15 sắc dân với thể chế Lệnh vua còn thua Lệ Làng
207BC
207BC tới 111BC: • 0
Triệu Ðà dứt Thục Phán đổi Quốc Hiệu thành Nam Việt:
Phía nam sông Dương Tử là của người Việt…… Ngô và Việt NAM
là một, cùng sắc dân Nông Nghiệp, con cháu Lộc Tục. VIỆT
Phía bắc sông Dương Tử là người khác giống, họ thuộc sắc dân
Du-Mục từ IRAN qua xâm chiếm và cai trị con cháu Ðế Nghi

Tần Thủy Hoàng 247BC tới 183BC
Bên Ta: Thục Phán và Triệu Ðà
Bên Tàu Bên Ta
Tần Thủy Hoàng lên ngôi 13 tuổi  247 Thục Phán Triệu Ðà
• Lã Bất Vi nhiếp chính

Tần Thủy Hoàng lấy lại quyền  242 Âu
vào năm 18 tuổi Lạc

Tần Thủy Hoàng lấy đất nhà Chu  236
và nước Tề vào năm 26 tuổi

Tần Thủy Hoàng đánh chiếm nước  225 Kháng
Sở trong 4 năm (35 tới 39 tuổi) Chiến

Tần Thủy Hoàng thống trị nước Sở  221

Tần Thủy Hoàng ký hiệp ước Bất  214  
Tương Xâm với Thục Phán để đánh
Triệu Ðà (Hồ Nam và Quảng Ðông)

Kháng chiến Nhâm Ngao và Triệu 213 •
Ðà giết tướng Ðồ Thư ở Hồ Nam

Tần Thủy Hoàng kinh lý Quảng Ðông  210 ÂU
và chết trên đường về Hàm Dương  LẠC
Hạng Võ giải phóng nước Sở — 209
Hạng Võ chiếm Hàm Dương — 208Tần  cáo chung
Hạng Võ lui về Sở ————– 207 Âu Lạc thua •
Lưu Bang dấy nghiệp • 206 NAM
Lưu Bang diệt Tề và Sở • 203 VIỆT
Hán Việt giao thương  ——-196——- 
Lã Hậu đánh Triệu Ðà (đại thắng) • ——-183——- 
Triệu Ðà phản công (đại thắng)  ——-182——- •
Lã Hậu phục thù (đại bại)  ——-181——- •

Sau đó Lã Hậu bị ám sát, Thái Tử lên ngôi và xin giao hiếu với Triệu Ðà

Advertisements

Lưu lại ý kiến đóng góp hay phản hồi vào ô dưới đây :

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s