Bà Thủ khoa Nghiã

Lãng Nhân

Khoảng 1820, ông Nguyễn Văn Lý làm hộ trưởng ở tỉnh Biên Hòa, nhà cửa thênh thang làm ăn sung túc. Một hôm, một thanh niên đến xin ở trọ để tiện theo học trường thày đồ Hoành gần đó. Thấy vẻ người tuấn tú, ăn nói lễ độ, ông niềm nở mời ngồi. Hỏi lai lịch thì biết là Bùi Hữu Nghĩa, quê làng Long Tuyền, tổng Bình Thủy, Cần Thơ, cha làm thuyền chài đã gắng cho theo đòi bút nghiên, ngặt vì quá nghèo nên định bỏ học thì may có ông người làng họ Ngô mến tính hiếu học giúp tiền lương cho lên Biên Hòa thụ giáo thày Hoành là nhà mô phạm nức tiếng. Ông hộ trưởng vui vẻ dành ngay một phòng cho người thư sinh dễ. thương, ngầm có ý chấm làm khách đông sàng vì ái nữ là cô Tốn tóc đã chấm ngang vai.

Tiếp tục đọc

Tưởng nhớ ông Thủ khoa Bùi Hữu Nghiã (1807-1872)

Hàn Lâm NGUYỄN PHÚ THỨ
(Trích dẫn tác phẩm Tìm Hiểu Danh Nhân 1 của Gs Nguyễn-Phú Thứ)

Sau khi thăm Trường Trung-Học Phan-Thanh-Giản trong thành phố Cần-Thơ xong, chúng ta rời nơi đây để đi về hướng thành phố Long-Xuyên, bắt buc đi trên đường Nguyễn-Trãi, qua cầu Cái-Khế, rồi nối tiếp đường Cách Mạng Tháng Tám hướng về đường liên tỉnh 91 để đi : Bình-Thủy, Trà Nóc, Ômôn, Thốt Nốt, An-Giang, Kiên Giang … khoảng 5 cây số, về phía bên mặt (tay phải), chúng ta để ý sẽ thấy cổng tam quan ghi bằng chữ lớn màu đỏ: M Thủ Khoa Nghĩa 1974 (tọa lạc tại số 442 đường Cách Mạng Tháng Tám, cách cầu Bình-Thủy không bao xa). Được biết cổng này được xây dựng vào năm 1974 bằng ci-măng (le ciment) cốt thép, phần trên được đặt tượng lưỡng long tráng men màu xanh, nâu đỏ.

Tiếp tục đọc

Nữ sĩ Sương Nguyệt Anh

Khoảng 1850, ông Nguyễn Đình Chiểu làm thày lang ở Tân Thuận đông, tỉnh Gia Định, kết duyên với bà Lê Thị Điều, người Cần Giuộc, Chợ Lớn. Được ba trai, ba gái, trong số này có bà Nguyễn Thị Khuê là con thứ tư, sinh ngày 24 tháng 12 năm quý hợi (1863). Vóc người mảnh mai, tư dung thanh nhã, lại nhờ sự chăm sóc dạy dỗ của thân phụ, nên sớm trở nên một trang tài sắc lẫy lừng. Song gặp lúc thời thế đảo điên, lòng người dáo dở, kén cá chọn canh mãi không tìm được nơi xứng ý, nên đến năm cha tạ thế, thiếu nữ đã 25 tuổi mà vãn giữ phòng không. Gia đình hồi ở Ba tri, trong vùng có ngự sử Lê Đình Trọng về hưu trí, mở trường dạy học. Vài ba thư sinh gấm ghé cô nữ sinh, nhất là Giảng và Xuyên. Một hôm ông đồ vắng nhà, hai anh đến chơi bàn luận văn chương.

Cô Năm Khuê ra câu:

Đằng tiểu quốc, sự Tề hồ, sự Sở hồ?

(Nước Đằng nhỏ, ở giữa Tề Sở, biết thờ nước nào?)

Tiếp tục đọc

Cô Tám “Hàng Than”

Vào khoảng cuối thế kỷ trước (những năm sau 1890) ở vùng Nghệ Tĩnh, những ngày phiên chợ Tràng trên bờ sông Lam, có một thiếu phụ cùng một bé trai năm sáu tuồi, ngồi bán than. Mấy túi than này do cô chở đến trên con thuyền nhỏ tự tay chèo lái, không rõ xuất phát từ ngàn Hống hay ngàn Trươi là hai cánh rừng sâu rất hiểm trở trên dặng núi Hông.

Vốn người điềm đạm, nét mặt lại thường thoáng vẻ buồn, chỉ những lúc chợ vãn khách cô thủ thỉ đôi câu mưa nắng với mấy bạn hàng gần bên, người ta mới biết tên cô là Tám và quen gọi là cô Tám hàng than, thế thôi, chứ không biết gì hơn về cô. Cho nên cô là đề tài cho họ kháo nhau trong lúc “ngồi lê đôi mách”:

Tiếp tục đọc