“Trả lại những gì của Lịch sử cho Lịch sử”

Phạm Trần Anh

“Người Việt đã bao nhiêu thế kỷ chịu ảnh hưởng của văn minh Hán Hoa, đã ăn sâu vào cá tính và có thái độ cho rằng mình thua kém, chỉ thu thập văn minh và văn hóa Trung Quốc và không tin rằng, văn hóa Trung Quốc thật sự đã nhận được sự đóng góp đáng kể từ các dân tộc Bách Việt ở phương Nam.
Những nếp sống văn hoá này đem vào Trung Hoa thời Tiền sử mang yếu tố “Biển” rõ rệt và có thể mô tả bằng một chữ, đó là chữ “VIỆT” mà trước kia thường gọi sai lầm là Thái cổ (ProtoThai)”. Tôi xác định chữ Việt nay là quốc hiệu của một nước vùng Đông Nam châu Á: Nước Việt Nam.
Sự thật bị che phủ hàng ngàn năm cùng với ảnh hưởng của ngàn năm thống trị nô dịch văn hóa khiến ngay cả người Việt cũng ngỡ ngàng, không tin đó là sự thật .!!!”.
J. NEEDHAM

“Việt Nam đầy rẫy những triết gia hiểu biết theo nghĩa là những con người có chiều sâu tư tưởng, biết suy nghĩ trăn trở. Càng về đồng quê, thôn cùng xóm vắng thì càng nhiều, đó là xã hội lý tưởng của Platon mơ ước đã hiện thực ở Việt Nam từ lâu rồi”.
PAUL MUS

“ Việt tuy gọi là man di nhưng tiên khởi đã có đại công đức với muôn dân vậy ..!”.
TƯ MÃ THIÊN

“ Độ luợng bao dung, khoan hòa giáo hóa, không báo thù kẻ vô đạo, đó là sức mạnh của phương Nam, người quân tử ở đấy ..! Mặc giáp cưỡi ngựa, xông pha giáo mác, đến chết không chán, đó là sức mạnh của phương Bắc. Kẻ cường đạo ở đó…”.
KHỔNG PHU TỬ

“Giao Chỉ là đất văn hiến, núi sông un đúc, trân bảo rất nhiều, văn vật khả quan, nhân tài kiệt xuất”.
HÁN HIẾN ĐẾ

“Người trong nước có thông hiểu những sự tích nước mình mới có lòng yêu nước, yêu nhà, mới biết cố gắng học hành, hết sức làm lụng, để vun đắp thêm vào cái nền xã-hội của Tổ tiên đã xây dựng nên mà để lại cho mình”.
TRẦN TRỌNG KIM
(Việt Nam Sử Lược)

Lịch sử Việt là lịch sử của sự thăng trầm từ khi lập quốc đến ngày nay. Dân tộc Việt đã phải chịu đựng gần một ngàn năm đô hộ của giặc Tàu, sau chiến thắng Bạch Đằng Giang lịch sử năm 938 của Ngô Quyền đã mở ra thời kỳ độc lập tự chủ của dân tộc. Trong suốt trường kỳ lịch sử, Hán tộc bành trướng với ưu thế của kẻ thắng trận và thủ đoạn thâm độc quỉ quyệt đã không những dùng mọi phương cách để đồng hóa Việt tộc bằng cách xóa đi mọi dấu vết cội nguồn, bóp méo sửa đổi lịch sử khiến thế hệ sau chỉ biết tìm về lịch sử trong một mớ “chính sử” hỗn độn mơ hồ. Mỗi một triều đại Hán tộc đều chủ tâm thay đổi địa danh, thủy danh xưa cũ của Việt tộc cùng với ảnh hưởng nặng nề của một ngàn năm đô hộ của sự nô dịch văn hóa khiến ta chấp nhận tất cả như một sự thật mà không một chút bận tâm. Thế nhưng, lịch sử vẫn là lịch sử của sự thật dù bị sửa đổi vùi lấp hàng nghìn năm dưới ánh sáng của chân lý khách quan trước thềm thiên niên kỷ thứ ba của nhân loại.
Bước sang thiên niên kỷ thứ ba, ánh sáng của sự thật soi rọi vào quá khứ bị che phủ hàng ngàn năm bởi kẻ thù Hán tộc bành trướng. Trong thiên niên kỷ thứ hai, nhân loại sửng sốt trước cái gọi là “Nghịch lý La Hy” khi trước đây nhân loại cứ tưởng tất cả nền văn minh Tây phương là của đế quốc Hy Lạp La Mã, để rồi phải xác nhận đó chính là nền văn minh của Trung Quốc. Cuối thiên niên kỷ thứ hai, nhân loại lại ngỡ ngàng khi thấy rằng cái gọi là nền văn minh Trung Quốc lại chính là nền văn minh của đại chủng Bách Việt.
Vấn đề đặt ra cho chúng ta là phải nhìn lại toàn bộ lịch sử để phục hồi sự thật của lịch sử để xóa tan đám mây mờ che lấp suốt mấy ngàn năm lịch sử bởi kẻ thù truyền kiếp của dân tộc khiến chúng ta hoài nghi về nguồn gốc của dân tộc mình. Hàng loạt câu hỏi đặt ra như lịch sử Việt với huyền thoại Rồng Tiên hoang đường huyền hoặc vì thời buổi này ai mà tin người đẻ ra trứng rồi trứng lại nở ra người??? Truyền thuyết khởi nguyên dân tộc kể rằng dân tộc ta là con cháu của Thần Nông mà Thần Nông là người Tàu nên dân tộc chúng ta cũng từ Tàu mà ra!!! Trước đây, một số sách lịch sử không tìm hiểu nghiên cứu về truyện họ Hồng Bàng nên cho rằng dòng Thần Nông phương Bắc là Trung Quốc, ta là dòng Thần Nông phương Nam cùng một ông Tổ Thần Nông mà quên hẳn một điều Hán tộc là tộc người du mục thì làm sao có thể là con cháu của ông Tổ nghề trồng lúa nước Thần Nông? Rồi danh từ trăm họ, bách tính bá tánh và các dòng họ Việt Nam do ảnh hưởng của sự nô dịch văn hoá nên cũng cho là của Tàu, từ Tàu di cư qua Việt Nam. Biết bao vấn đề cần làm sáng tỏ vì sau gần một ngàn năm dưới ách thống trị của Tầu Hán với chủ trương thâm độc quỷ quyệt, kẻ thù truyền kiếp của dân tộc đã xuyên tạc bóp méo sửa đổi lịch sử để đồng hoá dân ta. Có một thực tế là sau gần một ngàn năm nô lệ giặc Tàu, một trăm năm đô hộ của giặc Tây khiến dân tộc chúng ta dường như mang mặc cảm thua kém văn minh Tàu, cái gì hay đẹp cũng nói là của Tàu, cái gì to lớn văn minh cũng bảo là của Tây… đã tạo nên cái tự ti mặc cảm của một dân tộc nhược tiểu. Ai trong chúng ta cũng đều biết rõ mình không phải là Tàu nhưng không dẫn ra những chứng cớ thuyết phục để chứng minh ngược lại. Thậm chí, ảnh hưởng của sự nô dịch văn hóa khiến một số người tỏ ra hoài nghi tất cả những gì khác cho dù đó là một công trình nghiên cứu có tính khoa học thuyết phục mà vẫn khư khư chấp nhận những nhồi nhét từ ngàn năm qua. Chính vì vậy một học gỉa thời danh ngoại quốc J. Needham đã phải viết rằng: “Sự thật bị che phủ hàng ngàn năm cùng với ảnh hưởng của ngàn năm thống trị nô dịch văn hóa khiến ngay cả người Việt cũng ngỡ ngàng, không tin đó là sự thật .!!!”.
TRONG LỊCH SỬ NHÂN LOẠI, có lẽ không một dân tộc nào chịu nhiều mất mát trầm luân như dân tộc Việt với những thăng trầm lịch sử, những khốn khó thương đau. Ngay từ thời lập quốc, Việt tộc đã bị Hán tộc với sức mạnh của tộc người du mục đã đánh đuổi Việt tộc phải rời bỏ địa bàn Trung nguyên Trung quốc xuống phương Nam để rồi trụ lại phần đất Việt Nam bây giờ. Trải qua gần một ngàn năm đô hộ, với chiến thắng Bạch Đằng Giang năm 938 của Ngô Quyền mới chính thức mở ra thời kỳ độc lập của V Việt tộc.
Trong suốt trường kỳ lịch sử, tuy bị Hán tộc xâm lấn phải bỏ trung nguyên xuống phương Nam nhưng nền văn hóa của Việt tộc đã thẩm nhập vào đất nước và con người Hán tộc để hình thành “cái gọi là văn minh Trung Quốc”. Chính sử gia chính thống của Hán tộc là Tư Mã Thiên đã phải thừa nhận một sự thực là: “Việt tuy gọi là man di nhưng tiên khởi đã có đại công đức với muôn dân vậy …”. Vạn thế sư biểu của Hán tộc là Khổng Tử đã ca tụng nền văn minh rực rỡ, xác nhận tính ưu việt của nền văn minh Bách Việt ở phương Nam. Trong sách Trung Dung Khổng Tử đã viết như sau:
“Độ luợng bao dung, khoan hòa giáo hóa, không báo thù kẻ vô đạo, đó là sức mạnh của phương Nam, người quân tử ở đấy..! Mặc giáp cưỡi ngựa, xông pha giáo mác, đến chết không chán, đó là sức mạnh của phương Bắc. Kẻ cường đạo ở đó ..”.
Trong kinh “Xuân Thu”, Khổng Tử đã ghi lại bao nhiêu trường hợp cha giết con, con giết cha, cha cướp vợ của con, con cướp vợ của cha, anh chị em dâm loạn với nhau, bề tôi giết chúa … Điều này chứng tỏ Hán tộc du mục vẫn còn dã man mạnh được yếu thua, bất kể tình người, bất kể luân lý đạo đức. Thế mà chính sử Trung Quốc cứ vẫn miệt thị Việt tộc là man di, các Thứ sử Thái Thú Hán vẫn lên mặt giáo hóa dân Việt trong khi Bách Việt ở phương Nam đã đi vào nền nếp củ của văn minh nông nghiệp từ lâu.
“Vạn thế Sư biểu” của Hán tộc là Khổng Tử cũng đã phải đem những nghiên cứu, sưu tập, học hỏi của nền văn minh Bách Việt phương Nam đặt để thành những tôn ti trật tự, những giá trị đạo lý cho xã hội Trung Quốc. Tất cả những “Tứ thư, ngũ kinh” được xem như tinh hoa của Hán tộc đã được chính Khổng Tử xác nhận là ông chỉ kể lại “Thuật nhi bất tác”, chép lại của tiền nhân chứ không phải do Khổng Tử sáng tác ra. Chính vì Hán tộc đã lấy văn hóa Việt rồi biến cải thành văn hóa Hán rồi lại ra sức truyền bá nhồi nhét cái gọi là văn hóa Hán suốt gần 1 ngàn năm thống trị nên chúng ta cứ tưởng từ cái tết đến tiết thanh minh, tết Đoan Ngọ, tết trung Thu… là của Tàu trong khi đó chính là lễ hội của cư dân nông nghiệp chúng ta. Ngày nay, sự thật lịch sử đã được phục hồi khi giới nghiên cứu đều xác nhận hầu hết các phát minh gọi là văn minh Trung Quốc từ nền văn minh nông nghiệp đến văn minh kim loại, kỹ thuật đúc đồng, cách làm giấy, cách nấu thủy tinh, cách làm thuốc súng, kiến trúc nóc oằn mái và đầu dao cong vút … tất cả đều là của nền văn minh Bách Việt. Chính Hán Hiến Đế, vị vua cuối cùng của triều Hán đã phải thừa nhận như sau:
“Giao Chỉ là đất văn hiến, núi sông un đúc, trân bảo rất nhiều, văn vật khả quan, nhân tài kiệt xuất ..!”.
HƠN LÚC NÀO HẾT, tìm hiểu về huyền thoại Rồng Tiên, khởi nguyên dân tộc Việt Nam thời Lập Quốc với Quốc Tổ Hùng Vương là một yêu cầu lịch sử hết sức cần thiết. Thế hệ con em chúng ta sẽ hiểu rõ về bản sắc văn hoá truyền thống của dân tộc Việt, về đời sống văn hoá tâm linh Việt, về những lễ tết, hội hè đình đám của dân tộc Việt. Để từ đó, thế hệ con em chúng ta sẽ thấy rõ hơn gía trị cao đẹp của bản sắc văn hóa truyền thống nhân bản Việt. Chúng ta có quyền tự hào là “con Rồng cháu Tiên” của một dân tộc có lịch sử lâu đời như danh nhân văn hóa Nguyễn Trãi đã tuyên xưng: “Chỉ nước Đại Việt ta từ trước, mới có nền văn hiến ngàn năm”. Chúng ta hãnh diện được làm người Việt Nam thuộc một đại chủng lớn của nhân loại để ngẩng cao đầu sánh vai cùng các cường quốc trong thiên niên kỷ thứ ba của nhân loại.
Chúng ta phải làm sao xứng đáng với tiền nhân, chúng ta phải làm gì để không hổ thẹn với hồn thiêng sông núi, với anh linh của những anh hùng liệt nữ Việt Nam. Toàn thể đồng bào trong nước và Hải ngoại cùng nắm chặt tay nhau, muôn người như một cùng đứng lên đáp lời sông núi để cứu quốc và hưng quốc, tô điểm giang sơn gấm vóc, xứng danh ngàn năm dòng giống Lạc Hồng.
Chính niềm tự hào dân tộc sẽ thôi thúc lòng yêu nước của toàn thể đồng bào Việt Nam chúng ta, nhất là thế hệ trẻ trong nước và Hải ngoại để vươn lên làm một cuộc cách mạng Dân tộc Dân chủ xã hội. Điều kiện khách quan của lịch sử đã tạo cho dân tộc chúng ta một thế hệ trẻ có đầy đủ tri thức thời đại để hoàn thành một cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật siêu vượt, đưa đất nước chúng ta bước lên sánh vai cùng các cường quốc trong thiên niên kỷ thứ ba của nhân loại.

Mùa Giỗ Tổ 4.890 Việt Lịch (2011 DL)
PHẠM TRẦN ANH

TRUYỀN THUYẾT RỒNG TIÊN VỀ KHỞI NGUYÊN DÂN TỘC LÀ MỘT CHUYỆN HOANG ĐƯỜNG HUYỀN HOẶC?

Mỗi dân tộc đều có những truyền kỳ lịch sử được thần thoại hoá thể hiện lòng tự hào dân tộc mang tính sử thi của dân tộc đó. Nữ sĩ Blaga Dimitrova cũng như nhiều học giả ngoại quốc khác đã hết sức ngạc nhiên xen lẫn thán phục khi nghiên cứu về lịch sử Việt Nam, một dân tộc mà huyền thoại và hiện thực đan quyện hòa lẫn với nhau đến độ khó có thể phân biệt đâu là huyền thoại đâu là hiện thực nữa. Thật vậy, huyền thoại Rồng Tiên về cội nguồn huyết thống Việt tuy đượm vẻ huyền hoặc nhưng lại tràn đầy tính hiện thực, thấm đậm nét nhân văn của truyền thống nhân đạo Việt Nam. Người Việt Nam, từ em bé thơ ngây đến cụ già trăm tuổi, từ bậc thức giả đến bác nông dân chân lấm tay bùn, không ai không một lần nghe truyện cổ tích họ Hồng Bàng về “Con Rồng cháu Tiên”, truyền thuyết khởi nguyên của dân tộc. Là người Việt Nam, chúng ta hãnh diện về nguồn cội Rồng Tiên với thiên tình sử của “Bố Lạc Mẹ Âu” đẹp như một áng sử thi mở đầu thời kỳ dựng nước của dòng giống Việt.
Truyện họ Hồng Bàng về khởi nguyên dân tộc, lần đầu tiên được Hồ Tông Thốc chép trong tác phẩm “Việt Nam Thế Chí” vào thế kỷ XIV đời Trần nhưng sách đã bị quân Minh tịch thu tiêu hủy nên không còn nữa. Bộ sử đầu tiên được biết là bộ “Việt Chí” của Trần Phổ và bộ “Đại Việt Sử ký” do Lê văn Hưu biên soạn đời Trần Nhân Tông năm 1272. Cả 2 bộ sách này đã bị quân Minh tịch thu rồi tiêu hủy nên cũng không còn nữa. Cuối đời Trần, sách Đại Việt Sử lược do một tác giả vô danh biên soạn bị quân Minh tịch thu tiêu hủy còn bản duy nhất lưu trữ trong “Thủ sơn các Tùng thư và Khâm định Tứ khố Toàn thư” đời Thanh. Bộ sử này được hiệu đính bởi Tiền Hi Tộ, sử quan triều Thanh nên đã sửa chữa nội dung kể cả tên sách Đại Việt Sử lược cũng bị sửa lại là Việt sử lược. Đây bản chất thâm độc quỉ quyệt của Hán tộc xâm lược, sử quan triều Thanh Tiền Hi Tộ đã sửa đổi niên đại thành lập nước Văn Lang, kéo lùi lại hàng ngàn năm hòng xóa bỏ vết tích quê hương xa xưa của Việt tộc ở Trung Quốc. Với thủ đoạn thâm độc qủy quyệt, Tiền Hi Tộ xuyên tạc ý nghĩa cao đẹp của sự thành lập quốc gia Văn Lang, Hai Bà Trưng khởi nghĩa giành độc lập dân tộc thì Tiền Hi Tộ viết là bất mãn Tô Định bạo tàn nổi lên làm loạn !!! Sử quan triều Thanh là Tiền Hi Tộ đã sửa đổi xuyên tạc, bóp méo lịch sử theo ý đồ “Đại Hán xâm bành trướng” để làm giảm ý nghĩa cao đẹp của sự thành lập quốc gia Văn Lang như sau: “Đến đời Chu Trang Vương (696-682TDL) ở bộ Gia Ninh có người lạ dùng ảo thuật áp phục được các bộ lạc, tự xưng Hùng Vương, đóng đô ở Văn Lang, hiệu là nước Văn Lang. Phong tục thuần hậu, chất phác. Chính sự dùng lối thắt nút. Truyền được 18 đời đều gọi là Hùng Vương. Việt Câu Tiễn (505-465 tr. CN.) đã sai sứ tới dụ, Hùng vương chống cự lại. Cuối đời Chu, Hùng vương bị con vua Thục là Phán đánh đưổi mà lên thay. Phán đắp thành ở Việt thường, xưng hiệu là An Dương Vương, không thông hiếu với nhà Chu… Cuối đời Tần, Triệu Đà chiếm cứ Uất Lâm, Nam Hải, Tượng quận, xưng vương đóng đô ở Phiên ngung, quốc hiệu là Việt, tự xưng là Vũ Vương”.(1)
Đầu thế kỷ XIV, Trần Thế Pháp và Lý Tế Xuyên đời Trần đã chép lại những truyền thuyết dân gian vào bộ sách “LĨNH NAM TRÍCH QUÁI” và “VIỆT ĐIỆN U LINH” để truyền lưu nguồn gốc giống dòng Việt cho đời sau. Trần Thế Pháp tác giả Lĩnh Nam Trích Quái viết: “Từ thời Xuân Thu Chiến Quốc chưa có quốc sử để ghi chép cho nên nhiều truyện bị mất đi, may còn truyện nào không bị thất lạc được dân gian truyền miệng thì đó là SỬ ở trong truyện chăng? Than ôi, Lĩnh Nam Liệt truyện sao không khắc vào đá, viết vào tre mà chỉ truyền tụng ở ngoài bia miệng !? Từ đứa trẻ đầu xanh đến cụ già tóc bạc đều truyền tụng và yêu dấu, lấy đó làm răn, rất quan hệ đến cương thường, phong hoá. Ôi ! Há đâu phải là điều lợi nhỏ ???”. Năm 1329, Lý Tế Xuyên viết Việt Điện U Linh cũng ấp ủ hoài bão bảo lưu truyền thuyết về nguồn cội dân tộc nên ông cho rằng: “Xem truyện họ HỒNG BÀNG thì hiểu lai do việc khai sáng nước HOÀNG VIỆT. Trời đã sai chim huyền điểu giáng thế sinh ra vua Thương thì hẳn có việc trăm trứng nở thành trăm con trai chia trị Nam quốc. Truyện họ Hồng Bàng không thể mất được”. Học giả Lê Quí Đôn trong “Kiến văn Tiểu lục” viết năm 1777 đã nhận định: “Hồi đầu niên hiệu Khai Hựu (1329-1341) nhà Trần, Lý Tế Xuyên phụng mệnh chép Việt Điện U Linh tập, ghi đền miếu thờ các vị thần, có trình bày hạo khí linh tích 8 vị Đế vương Lịch đại và 12 vị nhân thần. Sách này lời văn trang nghiêm, sự việc xác thực, cũng tỏ ra tài nhà sử học lành nghề. Trong sách có dẫn Giao Châu ký của Tăng Cổn, Sử ký của Đỗ Thiện và truyện Báo cực. Những sách này đều không còn thấy lưu truyền ..!”. Mãi đến đời Lê, sử gia Ngô Sĩ Liên mới chính thức đưa thời đại Hùng Vương vào bộ ĐẠI VIỆT SỬ KÝ TOÀN THƯ. Quan niệm của ông khi viết sử là để “Xét rõ nguồn gốc xưa nay của trị loạn để bạo biếm khen chê răn đời”. Ngô Sĩ Liên tuy mới chép thời đại Hùng Vương trong phần ngoại kỷ chứ chưa chính thức ghi vào chính sử cốt ý để cho thế hệ đời sau soi sáng cội nguồn qua các công trình nghiên cứu để minh nhiên lý giải nguồn gốc dân tộc. Sử gia Ngô Sĩ Liên viết “Nước ĐẠI VIỆT ta ở về phía Nam Ngũ Lĩnh, thế là Trời đã chia bờ cõi Nam Bắc hẳn hòi. Thủy tổ của ta là con cháu Thần Nông. Trời đã sinh ra vị chân chúa vì thế mới cùng Bắc triều đều làm chúa Tể một phương”. Đại Việt Sử ký Toàn thư chép về họ Hồng Bàng như sau: “Xưa cháu ba đời của Viêm Đế họ Thần Nông là Đế Minh sinh ra Đế Nghi. Đế Minh đi tuần du phương Nam, đến dãy Ngũ Lĩnh gặp Vụ Tiên nữ sinh ra Vương (Lộc Tục). Vương là bậc Thánh trí thông minh. Đế Minh yêu quí lạ, muốn cho nối ngôi. Vương cố nhường cho anh mình, không dám vâng mệnh nên Đế Minh lập Đế Nghi là con trưởng nối dòng trị phương Bắc và phong cho vua là Kinh Dương Vương, trị phương Nam, đặt tên nước là Xích Quỷ. Vương lấy con gái Chúa Động Đình là Thần Long, sinh ra Lạc Long Quân. Lạc Long Quân húy là Sùng Lãm, nhà vua lấy con gái của Đế Lai là nàng Âu Cơ, sinh ra trăm trai. Tục truyền là sinh ra trăm trứng, là Tổ của Bách Việt. Một hôm vua bảo Âu Cơ rằng: “Ta là giống Rồng, nàng là giống Tiên, thuỷ hoả khắc nhau, sum hợp thật khó” nên phải chia tay, năm chục con theo mẹ về núi, năm chục con theo bố về miền Nam. Có sách chép là về biển Nam. phong con cả là Hùng Vương nối ngôi”. (2)
Truyền thuyết thoạt nghe có vẻ hoang đường huyền hoặc thế nhưng vấn đề là chúng ta phải đặt mình vào thuở ban sơ cách đây mấy ngàn năm mới thấy rõ Tổ tiên ta đã sống ra sao và suy nghĩ thế nào ở thời cổ đại? Từ đó mới có thể hiểu được những gì mà Tổ tiên ta đã gửi gấm cho chúng ta qua bức thông điệp lịch sử đó. Làm sao có chuyện trứng nở ra người? Chi Âu Việt của người Việt cổ chọn vật linh biểu trưng là chim nên mẹ Âu phải đẻ ra trăm trứng. Chim Phượng Hoàng của người Việt tung cánh bay theo hướng mặt trời, vừa diễn tả ý niệm người Việt thiên cư dần về hướng Đông xuống miền bể, mặt khác chim bay lên trời được thăng hoa với hình tượng Tiên của mẹ Âu. Mỗi dân tộc đều có những truyền thuyết độc đáo mang sắc thái đặc thù biểu trưng riêng của dân tộc đó, ngay cả những dân tộc mà ngày nay được xem là văn minh cũng đều có một con vật biểu trưng cho dòng giống như Ấn Độ là voi, Tàu là con cọp, Pháp là con gà trống Gaulois, Anh là con sư tử, Mỹ là con chim Ưng (đại bàng) nên Hiệp chủng quốc Hoa Kỳ lấy chim đại bàng và Pháp lấy con gà làm quốc huy cho cả nước. Theo cơ cấu luận thì Sử ký là sử hàng ngang ghi chép các biến cố, các sự kiện cụ thể với những con người cụ thể theo năm tháng, còn Huyền sử được gọi là sử hàng dọc mang tính tâm linh, xoay quanh những tác động lý tưởng biểu thị bằng những hình tượng nguyên sơ giàu phổ biến tính. Những hình tượng này tiềm ẩn trong đời sống tâm linh của một dân tộc như trong huyền sử Rồng Tiên thì Âu Cơ chỉ là hình tượng nguyên sơ. Mẹ Âu Cơ là chi tộc thờ chim của Việt tộc nên việc mẹ đẻ ra một cái bọc trăm trứng là chuyện bình thường cũng như cái bọc không chỉ nói về cái bọc mà nó biểu trưng cho ý nghĩa của 2 chữ đồng bào cùng chung một bào thai của mẹ Âu Cơ. Huyền sử nói trăm con không nhất thiết phải là một trăm mà hàm ý số nhiều và quan trọng nhất là thư tịch cổ Trung Hoa chép về cộng đồng Bách Việt, đã chứng minh sự thật lịch sử của huyền thoại mà ta cứ tưởng là huyền hoặc hoang đường.
Ngày nay không ai phủ nhận được giá trị của huyền thoại và truyền thuyết được coi như lịch sử dân gian mà đôi khi nó có giá trị trung thực hơn cái gọi là chính sử của các chế độ độc tài xưa và nay. Beaudelaire một thi sĩ nổi tiếng đã nhìn nhận sức mạnh của truyền thuyết huyền thoại vì đó là “Sử cô đọng của các dân tộc”. Đại văn hào Pháp Victor Hugo khi viết “Truyền Kỳ các thời đại” ông đã tìm về nguồn cội, khai thác các truyền thuyết thần thoại xa xưa vì theo ông, đó là “Lịch sử được lắng nghe ở ngưỡng cửa của truyền thuyết. Truyền kỳ có phần nào hư cấu nhưng tuyệt đối không có ngụy tạo”. Thật vậy, truyền thuyết tự thân nó không phải là lịch sử biên niên nhưng truyền thuyết là có thật, nó phản ảnh những ý nghĩa có thật của một thời lịch sử ban sơ mà người xưa ký thác vào đó dưới lớp vỏ hư cấu huyền hoặc để truyền lưu gửi gấm cho những thế hệ sau. Một triết gia nói: “Tất cả nền minh triết cũng như trí khôn loài người đều ẩn tàng trong các huyền thoại, truyền kỳ lịch sử dân gian”. Laurens va de Post đã xem huyền thoại là di sản thiêng liêng nhất vì nó diễn tả tinh thần dân tộc ở mức độ cao nhất. Micia Eliado cũng cho rằng “Huyền thoại là gia sản quí báu nhất vì tính chất thiêng liêng điển hình và mang lại ý nghĩa sống cho cả một dân tộc”. Vấn đề là phải làm sao hiểu được những lý tưởng uyên nguyên, những tâm linh sâu thẳm hàm tàng ẩn chứa qua những hình tượng nguyên sơ như P. Ricoeur đã viết:“Tất cả đã được nói rồi trong các thần thoại, vấn đề chúng ta là chỉ còn phải tìm hiểu”. Triết gia thời đại Jung đã viết:“Truyền thuyết huyền thoại hàm chứa những ý nghĩa lịch sử trung thực nhất, vì nhân vật thần thoại là sản phẩm đúc kết biết bao suy tư của một thời đại tạo dựng tỏa sáng nhưng nó phải chờ thế hệ sau diễn đạt bằng ngôn từ minh nhiên lý giải. Huyền thoại là đạo sống của một dân tộc”. Chính vì vậy, Wallace Cliff khẩn thiết kêu gọi: “Nếu dân tộc nào để mất đi huyền thoại là đánh mất mạch nối vào nguồn cội quá khứ của tổ tiên và cũng sẽ mất luôn căn bản cho việc xây dựng tiền đồ của dân tộc đó”. Lịch sử đã chứng minh nhận định của Karl Jung là “Dân tộc nào quên đi huyền thoại thì dân tộc đó dù là những dân tộc văn minh nhất sớm muộn cũng sẽ tiêu vong”. Trong lịch sử loài người, nhiều cộng đồng người đã không tồn tại được với thời gian vì không có truyền thuyết khởi nguyên của dân tộc. Huyền thoại là di sản thiêng liêng nhất, quí báu nhất mà tiền nhân đã để lại cho hậu thế. Huyền thoại là mạch sống nối cội nguồn quá khứ với thế hệ hiện tại và mai sau, là gia sản cao quí vô giá ghi nhận những cảm nghiệm nội tâm của người xưa đã thực chứng suốt dòng vận động của lịch sử. Thật vậy, huyền thoại Rồng Tiên đã thấm sâu trong lòng mỗi người chúng ta để rồi trở thành đạo sống của dân tộc Việt. Với phương pháp nghiên cứu huyền thoại, chúng ta nghiên cứu huyền sử, tìm về nguồn cội dòng giống qua những gửi gấm của người xưa là một việc làm hết sức đúng đắn và cần thiết.
Vấn đề đặt ra là với một thái độ trân trọng, một phương pháp khoa học, nhưng không có quyền áp đặt những suy nghĩ của chúng ta hôm nay lên những ý tưởng của người xưa mà chúng ta phải đặt mình hoàn cảnh lịch sử thời đó để có thể hiểu được cái gọi là “lịch sử sống động của dân gian”. Một mặt, phải gạt bỏ những yếu tố thần thoại, loại ra những chi tiết hư cấu. Mặt khác, đặt mình vào hoàn cảnh xã hội đời sống tâm linh của người xưa, mới thấy được cái tinh túy cốt lõi tiềm tàng trong truyền thuyết, sau khi phân tích, đối chiếu và chứng minh bởi lịch sử rõ ràng với những chứng cứ Khảo cổ, Ngôn ngữ, Dân tộc và Chủng tộc học.

OPEN LETTER ABOUT SOUTHEAST ASIA SEA

In the first century before the solar calendar, Geographer Latin Pomponius in the geographical work De situ orbis or Chorographia called Southeast Asia where produced flavorings, aromatic spices and other strange products, but nowhere could have that was “golden land” (Chryse) and “golden island” (Argyre).Especially, the recent researching work about oceanography of Stephen Oppenheimer “Paradise in the East, the continent was sunk in Southeast Asia” made clear the historical fact that the recent marine transgression sunk the civilization of the ancient Southeast Asia 8.500 years ago.
Previously, Southeast Asia region was considered as the geographical-political and military region until the 16th century, Southeast Asia region emerged as one of the civilization centers of human beings. Today, researchers have admitted that a entity of Southeast Asian culture is a historical region including many languages and many residents in this region. All of them have the same human and geography situation as well as have the same natural and historical situation that we often call as the “Unity in diversity”. The natural and geographical environment, climate and soil with the same distribution of animals and plants that researchers have unified the view that the geographical area stretching from the foothill of Himalaya down to South Asia with the hot and wet climate, monsoon, high temperature and light, many rainfalls, land is suitable for a wide variety of plants and animals to grow and develop. It is the area of rice planting with the characteristic “bronze drum culture”. The area of culture and history includes the territories of countries: Vietnam, Laos, Cambodia, Thailand, Myanmar, Malaysia, Indonesia, Philippines, even South China (the ancient area of Bach Viet) except Adam Moluque Islands area and Western Irian area. The researching work about the results of DNA genetic analysis, linguistics and archeology has determined the homogeneity about races, economic activities, culture and societies of residents in the Southeast Asia cultural space.
Today, researchers have agreed with a common judgment that Southeast Asia with Hoa Binh culture of Hoabinhian residents, one of the oldest cradle of human beings, the original place of human’s civilization. Southeast Asia region had the same historical circumstances, an ancient culture and the same origin of Hoabinhian was fought and chased by Han people (Chinese) from the basin of two rivers: Yellow River and Yangtze River down to Southeast Asia Continent and Islands. Vietnam was located in the center place for exchange of cultures, so Vietnam was the convergences place of most the cultural characteristics in the region and in the world. Therefore, Southeast Asia Researchers called Vietnam as a miniature Southeast Asia.
Southeast Asia Sea area plays as the important and strategic geography position, so Southeast Asia also had the same historical fate. Right from the 13th century, China tried to invade the South to open the way towards the Mallacca Strait and European colonialists also came Southeast Asia in the 16th century. Portuguese occupied Malacca Islamic nation in 1511. Dutch and Spain colonialists replaced Portugal to dominate Malacca in 1641. Spain occupied Philippines in 1560. After British colonial ruled India and then under the guise of “East India Company” occupied Penang, in 1819, Stamford Raffles established Singapore as the main trading basis to compete with Netherlands. In 1824, Britain and Netherlands signed a treaty about dividing the interests in Southeast Asia. Particularly, only Thailand was not dominated by the Western colonialists. However, Thailand government was controlled more or less about politics by Western powers. In 1913, British people occupied territories: Burma, Malaya and Borneo, France took troops to invade Indochina and officially put the colonial yoke in Vietnam in 1884. Dutch ruled East India, the United States conquered Philippines from the hands of Spanish and Portuguese still ruled East Timor region.
After World War II, the foundation of the United Nations and especially the policy of conical dismissal of U.S. President Roosevelt opened for the national liberation movements of Southeast Asia countries rising highly. Indonesia declared its independence on 17th August 1945 and then they conducted a war against Dutch colonialists who were trying to return, the United States granted the independence to Philippines in 1946, Burma regained its independence from British in 1948 and France officially withdrew from Indochina after the Geneva Agreement on 20th Jul 1954. However, Southeast Asia countries did not regain their national independence, the Communism expanded to enslave other people and countries under the guise of national liberation and leading to an ideology war that we’ve often known as cold war. To fight against the threats from the Communism, British people granted the independence to Malaya and then Singapore, Sabah and Sarawak in 1957 and 1963 within the framework of the Union of Malaysia. In 1975, the rule of Portuguese people in East Timor was ended. Finally, Britain ended its protectionism with the Islamic nation, Brunei in 1984, it marked the end of European colonialism regime in Southeast Asia region.
China today is the new empire of the era and has the policy to monopolize the East Sea, so China has become a threat of the entire Southeast Asia region. The inherent policy of Han dynasties in the ancient time and Communist China today is to invade Vietnam at any cost to pave the way to Southeast Asia. In 1949, after occupying the entire China Continent, Mao Zedong openly declared: “All territories and islands under the affected area of China was occupied by empire factions from the middle of the 19th century to the late 1911 Revolution, such as: Mongols, Korea, An Nam (Vietnam), Hong Kong, Macao and islands in Pacific, such as: Sakhalin, Taiwan, Banh Ho would must return completely to China”. Mao Zedong obviously declared the intention to invade Vietnam and other Southeast Asia countries: “We must occupy South East Asia, including Cambodia, Vietnam, Thailand, Burma, Malaysia and Singapore. Vietnam is the pedal to advance to the South, we have to occupy at any cost…”
On 8th Sep 1954, Southeast Asia Treaty Organization, SEATO for short was established including eight countries: Australia, France, Britain, New Zealand, Pakistan, Philippines, Thailand and the United States to prevent the invasion of the Communism. After 23 years of operation, Southeast Asia Treaty Organization was dissolved on 30th Jun 1977. On 8th Aug 1967, the Association of Southeast Asia Nations was established, including Thailand, Indonesia, Singapore, Philippine, Malaysia. Today, Southeast Asia is a free trade area including ten countries: Brunei, Cambodia, Indonesia, Laos, Malaysia, Myanmar, Philippines, Singapore, Thailand and Vietnam. Southeast Asia includes Southeast Asia mainland and Southeast Asia islands with an area of ​​4,494,047 km²; the population of the entire region according to the statistic in 2004 was up to 556.2 million people. Southeast Asia countries have declared as a peaceful and democratic region, no nuclear weapons.
The important and strategic role, Southeast Asia Sea is a potential and very important fuel warehouse. Small islands are not much worth, but they can store huge amounts of oil. Oil reserves are not only located in the continental benches, but also in waters on the continental benches that are called as the exclusive economic zones of Vietnam away from the continental shore 200 miles. The survey by the International Geography Research Institute of Russia in 1995 had an estimate of about 6 billion barrels of oil in which 70% gas in Truong Sa area. China declared that Southeast Asia Seas as the “the second Ba Tu Bay”, it can contain up to 210 billion barrels of oil and gas. Because of the importance including the strategic position and the economic interests, so after submitting the file about continental bench on 13th Jun 2009, China publicly declared its sea area was stretched to the offshore in the East of Malaysia and Indonesia’s Natuna islands.
Currently, China has become a powerful country about economy and military. China no longer holds “defensive”, but it is carrying out the ambition of a dominator in Asia that has been hided for a long time. China has changed to the attack strategy by expanding fields about politics, economy and military to establish its influence in Asia and in the world. China having large land and population with the economic power has self-evidently stepped on the stage as a significant competitor of the United States. China has openly and defiantly declared the so-called “Ox Tongue Area” on Southeast Asia Sea and built large structures with concrete and steel frameworks, hang flag, dropped the iron buoys to mark its sovereignty on Mischief area for recent months. They are the latest activities that showing the hegemonic intentions of China. To control Southeast Asia countries, China has urgently built a powerful navy force and Hoang Sa- Truong Sa as the outpost base for military operations to control South East Sea and then move to occupy South Asia countries. Defense Minister, Tri Hao Dien has opened publicly and revealed the super-fascist intentions, super empire in the era with the ambition of implementing “A Century of China”, as follows:
“In the history of our Chinese people, when changing dynasties, evils always won and good-hearted people always failed. The experience of history proved that, once we make it happen, no one in this world can do anything to us. In addition, if the United States leads the world that was destroyed, the other enemies must also surrender us…We have had the modern science and technology, even clear atomic technology, genetic weapon technology as well as biological weapons, we can use the powerful measures to destroy American people on a large scale. Only using the un-destructive weapons that can kill many people as much as possible, we can build “the Century of Chinese people”, a century in which the Chinese Communist Party leads the world”. April 2010, the spokesman of China government declared that: “China themselves has more responsibilities in East Asia region, there will be military maneuvers more frequently of China in the international sea area, especially since the United States has increased the defense in the West of Pacific…China is ready to protect the core interests at any cost”.
The brazen actions regardless of the international law of Communist China Empire have really become a threat of Southeast Asia region in particular and the whole world in general. Defense Minister of the U.S., Robert Gates, at the security conference in Shangri-La in Singapore spoke: “policy of the U.S. for the South East Sea is the stability, freedom of transportation and freedom of economic development that will not be prevented. East Sea is place where “increasing concerns” due to the territorial disputes that may pose a threat to the freedom of navigation and economic development. East Sea is the increasing concern region. This sea area is not only important for countries that are adjacent to it, but also a concern for all countries with the economic interests and security in Asia. We oppose any attempts to threaten the U.S. companies, or any companies of any countries have engaged in the legal economic activities. The U.S. government has confirmed its long-term commitments in Asia and will continue to grow and expand coalitions as well as partner relationships in the region. The important obligations of the U.S. government for its coalitions, partners and the region is to reaffirm the security commitment of the United States in Asia as well as increase the ability to prevent the decisive in many ways. The defense of the United States in Asia is turning into the position “more expanding about geography, more consistent in stance, and more sustainable in politics. The U.S. government has been taking steps to increase and strengthen the missile defense with the aim of developing the defensive capabilities in Asia and changing the commitments of the U.S. into the more expanded powerful and efficient deterrence”.
In front of the expanding invasion ambition of China, the problem of sovereignty protection, territorial integrity is not only of Vietnam but also Southeast Asia countries and it is the common mission of all Southeast Asia countries. If Southeast Asia countries do not link with each other to create a power of whole block, the whole Southeast Asia region will be unstable. Therefore, INTERNATIONAL ORGANIZATION FOR STUDY OF THE SOUTH-EAST ASIA SEA including scholars with love of peace worldwide has been established to research, organize the international conferences in many countries around the world, with the participation of international and Vietnamese researchers about South East Asia Sea to expose the ambition of Communist China Empire in front of the international public, so that all the civilized countries in the world will speak out, take action on time to prevent the invasion and hegemony of China.
INTERNATIONAL ORGANIZATION FOR STUDY OF THE SOUTH-EAST ASIA SEA is a non-governmental organization, non-profit organization, independent organization, non-ethnic organization, but it puts the interests of the whole area first, in order to link the entire block in front of the invasion of Communist China.
In that direction and idea, we respectfully invite the international scholars to participate to protect the justice of all mankind, civilizations and advances. Especially, scholars in Southeast Asia countries please join in the forum to speak out for justice struggle to protect the national sovereignty and territorial and sea area integrity of our Southeast Asia region.
Best regards,

Made in California on 20th April 2010
PHAM TRAN ANH
(Mobilization group to found International Organization for Study of the South-East Asia Sea_.

Advertisements

Lưu lại ý kiến đóng góp hay phản hồi vào ô dưới đây :

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s